Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VỐN ĐẦU TƯ CHO PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về vốn đầu tư cho phát triển nông nghiệp 1. Khái quát chung về đầu tư 1. Khái niệm - Xét trên góc độ tiêu dùng: Đầu tư là hình thức hạn chế tiêu dùng hiện tại để thu được mức tiêu dùng nhiều hơn trong tương lai - Xét trên góc độ tài chính: Đầu tư là một chuỗi các hoạt động chi tiêu để chủ đầu tư nhận 1 chuỗi các dòng thu nhằm hoàn vốn và sinh lời.
Khái niệm đầu tư được xem xét ở 2 khía cạnh khác nhau do vậy khó cho việc nghiên cứu và hiểu về nó. Chính vì thế các nhà kinh tế đã đưa ra khái niệm chung nhất về đầu tư: Thuật ngữ “đầu tư” có thể được hiểu đồng nghĩa với “sự bỏ ra”, “sự hy sinh”. Từ đó, có thể coi “đầu tư” là sự bỏ ra, sự hy sinh những cái gì đó ở hiện tại (Tiền, sức lao động, của cải vật chất, trí tuệ…) nhằm đạt được những kết quả có lợi cho người đầu tư trong tương lai [14]. Tất cả những hành động bỏ tiền ra để tiến hành các hoạt động nhằm mục đích chung là thu được lợi ích nào đó (về tài chính, về cơ sở vật chất, về nâng cao trình độ, bổ sung kiến thức…) trong tương lai lớn hơn những chi phí đã bỏ ra.
Vì vậy, nếu xem xét trên giác độ từng cá nhân hoặc đơn vị đã bỏ tiền ra thì các hoạt động này đều được gọi là đầu tư. Tuy nhiên, nếu xét trên giác độ toàn bộ nền kinh tế thì không phải tất cả các hoạt động đều đem lại lợi ích cho nền kinh tế và được coi là đầu tư của nền kinh tế. Những kết quả của đầu tư có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính (Tiền vốn), tài sản vật chất (Nhà máy, đường xá.), tài sản trí tuệ (Trình độ văn hoá, chuyên môn, khoa học kỹ thuật.) và nguồn nhân lực có đủ điều kiện để làm việc có năng suất trong nền sản xuất xã hội. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Phân loại đầu tư Dựa vào những tiêu trí khác nhau, người ta có thể phân chia thành các loại khác nhau. Việc phân loại hoạt động đầu tư là rất cần thiết, nhằm lựa chọn các giải pháp kinh tế và pháp lý thích hợp thúc đẩy và tăng cường hiệu quả đầu tư cũng như hiệu quả quản lý Nhà nước về đầu tư. Có thể phân loại theo một vài tiêu trí sau: a. Căn cứ vào mục đích đầu tư có thể chia thành đầu tư phi lợi nhuận và đầu tư kinh doanh [14] - Đầu tư phi lợi nhuận là việc sử dụng các nguồn lực để thực hiện các hoạt động không nhằm mục tiêu thu lợi nhuận.
Đây là các hoạt động đầu tư của Nhà nước hoặc các tổ chức các nhân nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội. - Đầu tư kinh doanh: Là hoạt động đầu tư sử dụng các nguồn lực kinh doanh để thu lợi nhuận. Có rất nhiều hình thức đầu tư kinh doanh như: đầu tư vốn thành lập doanh nghiệp, hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng, thực hiện hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT)… b. Căn cứ vào nguồn vốn đầu tư: có thể chia thành đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài [14] - Đầu tư trong nước là hoạt động đầu tư mà nguồn lực đầu tư được huy động từ ngân sách nhà nước và từ các tổ chức, cá nhân trong nước.
- Đầu tư nước ngoài (còn được gọi là đầu tư quốc tế): là hoạt động đầu tư mà các nguồn lực đầu tư được huy động từ các tổ chức cá nhân nước ngoài hoặc người của nước nhận đầu tư định cư ở nước ngoài đầu tư về nước. Căn cứ vào tính chất quản lý của nhà đầu tư đối với vốn đầu tư, có thể chia đầu tư thành đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp [14] - Đầu tư gián tiếp: là hoạt động đầu tư trong đó người bỏ vốn không trực tiếp tham gia điều hành quản lý quá trình thực hiện và vận hành các kết quả đầu tư. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Nhà đầu tư thực hiện đầu tư gián tiếp tại Việt Nam theo các hình thức sau đây: + Mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác; + Thông qua quỹ đầu tư chứng khoán; + Thông qua các định chế tài chính trung gian khác. - Đầu tư trực tiếp là hoạt động đầu tư trong đó người bỏ vốn trục tiếp tham gia quản lý, điều hành quá trình thực hiện và vận hành kết quả đầu tư.
Trong đầu tư trực tiếp bao gồm đầu tư dịch chuyển và đầu tư phát triển. Trong đó: Đầu tư dịch chuyển là đầu tư trực tiếp mà việc bỏ vốn nhằm dịch chuyển quyên sở hữu của tài sản. Thực chất đầu tư dịch chuyển không có trị gia tăng giá tị tài sản. Đầu tư phát triển là phương thức của đầu tư trực tiếp.
Hoạt động đầu tư này nhằm duy trì và tạo ra năng lực mới trong sản xuất kinh doanh dịch vụ và sinh hoạt của đời sống xã hội. Đây là hình thức đầu tư trực tiếp tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, đơn vị sản xuất và cung ứng dịch vụ. Hình thức đầu tư này có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng và tăng trưởng nền kinh tế của mỗi quốc gia. Trong các hình thức đầu tư trên thì đầu tư phát triển là tiền đề, là cơ sở cho các hoạt động đầu tư khác.
Các hình thức đầu tư gián tiếp, dịch chuyển không thể tồn tại và vận động nếu không có đầu tư phát triển. Khái niệm Đầu tư vốn là hoạt động chủ quan có cân nhắc của người quản lý cho việc bỏ vốn vào một mục tiêu kinh doanh nào đó với hy vọng sẽ đem lại hiệu quả cao trong tương lai [14]. Trong điều kiện của nền sản xuất hàng hoá, để tiến hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh đều cần phải có tiền. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh lần đầu được hình thành thì tiền này được dùng để xây dựng nhà xưởng, mua sắm thiết bị, mua sắm nguyên vật liệu, trả lương cho người lao động.
Đối với cơ sở sản xuất kinh doanh đang hoạt động thì tiền này dùng để mua sắm máy móc thiết bị, xây thêm nhà xưởng, tăng thêm vốn lưu động nhằm mở rộng quy mô hoạt động hiện có, sửa chữa hoặc mua sắm tài sản cố định mới, thay thế tài sản cũ đã bị hư hỏng. Số tiền cần thiết cho hoạt động đầu tư thường rất lớn, không thể trích ra một lúc từ các khoản tiền chi tiêu thường xuyên của các cơ sở sản xuất kinh doanh của xã hội. Vì như thế sẽ làm xáo trộn mọi hoạt động bình thường của sản xuất và sinh hoạt xã hội. Do đó tiền sử dụng vào các hoạt động đầu tư chỉ có thể là tiền tích luỹ của xã hội, là tiền tích luỹ của các cơ sở sản xuất kinh doanh, là tiền tiết kiệm của dân và vốn huy động từ nước ngoài.
Từ đây có thể rút ra khái niệm vốn đầu tư và nguồn gốc của nó như sau: Vốn đầu tư là tiền tích luỹ của xã hội, của các cơ sở sản xuất kinh doanh, là tiền tiết kiệm của dân và huy động từ các nguồn khác đưa vào quá trình tái sản xuất xã hội nhằm duy trì cho sản xuất kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt xã hội và trong mỗi gia đình. Hay có thể nói vốn đầu tư nói chung là tổng số tiền bỏ ra để đạt được mục đích đầu tư trong một khoảng thời gian nào đó. Phân loại vốn đầu tư Phân loại vốn đầu tư là phân chia tổng mức đầu tư thành những tổ, những nhóm theo những tiêu thức nhất định nhằm đáp ứng nhu cầu nghiên cứu vốn đầu tư trong doanh nghiệp [14]. Vốn đầu tư là tổng hợp các loại chi phí để đạt được mục đích đầu tư, thông qua xây dựng nhà xưởng mua sắm máy móc thiết bị, do đối tượng của đầu tư rất phức tạp, nên tính chất của đầu tư vốn cũng rất đa dạng, do đó cần phải phân loại vốn đầu tư để phản ánh được mọi mặt hoạt động của đầu tư, thấy được quan hệ tỷ lệ đầu tư trong doanh nghiệp, thấy được sự cân đối hay Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 mất cân đối trong sự phát triển toàn diện của ngành xây dựng và ở mỗi doanh nghiệp, để hướng đầu tư vào từng đối tượng, từng yếu tố theo đúng chiến lược phát triển của Nhà nước, của ngành cũng như của doanh nghiệp.
* Phân loại vốn đầu tư theo đối tượng Đầu tư cho đối tượng vật chất (nhà xưởng, thiết bị, máy móc, dự trữ vật tư…). Đầu tư loại này có thể phục vụ cho sản xuất kinh doanh và dịch vụ, hoặc phục vụ cho các mục đích văn hoá xã hội. Đầu tư cho tài chính (mua cổ phiếu, trái phiếu, cho vay lấy lãi, gửi tiền tiết kiệm…). Phân loại vốn đầu tư theo góc độ tái sản xuất tài sản cố định Đầu tư mới: vốn để trang bị những tài sản mới mà từ trước đến nay chưa có trong doanh nghiệp (xây dựng, mua sắm thiết bị và máy móc loại mới).
Đầu tư mở rộng và cải tạo: vốn để mua sắm thêm bộ phận gắn liền với hệ thống đang hoạt động; vốn để đổi mới từng phần, thay thế, cải tạo và hiện đại hóa tài sản cố định hiện có. Đầu tư kết hợp hai loại trên. * Phân loại vốn đầu tư theo nguồn vốn Đầu tư từ vốn Nhà nước cho một số đối tượng theo quy định như: cho cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội, an ninh, quốc phòng, hỗ trợ cho các doanh nghiệp Nhà nước đầu tư vào các lĩnh vực cần có sự tham gia của Nhà nước, cho các doanh nghiệp vay để đầu tư phát triển… Đầu tư từ vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước (do các doanh nghiệp vay Nhà nước để đầu tư). Đầu tư từ vốn đầu tư phát triển của các doanh nghiệp Nhà nước, gồm: Vốn khấu hao cơ bản, vốn tích luỹ từ lợi nhuận sau thuế, vốn tự huy động của doanh nghiệp.
Vốn của các doanh nghiệp Nhà nước liên doanh với nước ngoài. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.