Nghiên cứu điều trị sỏi niệu quản bằng phương pháp tán sỏi nội soi ngược dòng sử dụng năng lượng laser tại bệnh viện hữu nghị việt đức luận văn thạc sỹ y học hà nội 2015 bộ giáo dục và đào tạo bộ quốc phòng học viện quân y nguyễn trương thiện nghiên cứu đ

Chuyên khảo giáo dục phân tích Nghiên cứu điều trị sỏi niệu quản bằng phương pháp tán sỏi nội soi ngược dòng sử dụng năng lượng, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng

Trường đại học

Học viện Quân y

Chuyên ngành

Ngoại Tiết Niệu

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ y học

2015

128
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Giải phẫu, sinh lý của niệu quản

1.2. Sơ lược giải phẫu niệu quản

1.3. Sinh lý của niệu quản

1.4. Đặc điểm sỏi niệu quản

1.5. Giải phẫu bệnh, sinh lý bệnh sỏi niệu quản

1.6. Diễn biến sỏi trong niệu quản

1.7. Triệu chứng lâm sàng của sỏi niệu quản

1.7.1. Triệu chứng cơ năng

1.7.2. Triệu chứng thực thể

1.7.3. Triệu chứng cận lâm sàng

1.8. Các biến chứng của sỏi niệu quản

1.9. Các phương pháp điều trị sỏi niệu quản

1.9.1. Điều trị nội khoa

1.9.2. Điều trị phẫu thuật lấy sỏi niệu quản

1.9.3. Điều trị sỏi niệu quản bằng các phương pháp ít xâm lấn

1.9.3.1. Phương pháp tán sỏi niệu quản nội soi ngược dòng

1.10. Sơ lược về phát triển nội soi niệu quản

1.11. Chỉ định và chống chỉ định tán sỏi niệu quản nội soi

1.12. Kết quả của phương pháp tán sỏi nội soi ngược dòng

1.13. Tai biến – biến chứng của nội soi niệu quản ngược dòng

1.14. Laser và ứng dụng laser trong tiết niệu

1.14.1. Đôi nét về lịch sử về laser

1.14.2. Ứng dụng laser trong tiết niệu

1.15. Kết quả Tán sỏi niệu quản qua nội soi ngược dòng bằng Laser

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân nghiên cứu

2.3. Tiêu chuẩn loại trừ

2.4. Chống chỉ định với nội soi niệu quản

2.5. Phương pháp nghiên cứu

2.6. Nội dung nghiên cứu

2.7. Thu thập những thông tin bệnh nhân

2.8. Khám lâm sàng

2.9. Cận lâm sàng

2.10. Phương tiện và dụng cụ nghiên cứu

2.11. Quy trình kỹ thuật tán sỏi niệu quản ngược dòng

2.12. Đánh giá kết quả kỹ thuật và điều trị

2.13. Phương pháp thu thập và xử lý số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ

3.1. Đặc điểm bệnh nhân sỏi niệu quản

3.2. Đặc điểm về tuổi, giới

3.3. Đặc điểm về bệnh kết hợp

3.4. Đặc điểm về bệnh lý sỏi niệu quản

3.5. Đặc điểm về lâm sàng

3.6. Cận lâm sàng

3.7. Đánh giá kết quả nội soi ngược dòng và tán sỏi

3.8. Đánh giá hình ảnh niệu quản và sỏi trong quá trình TSNS

3.9. Mức năng lượng và các phương pháp tán sỏi

3.10. Kết quả kiểm tra ngay trong quá trình nội soi và tán sỏi

3.11. Đánh giá kết quả trước ra viện

3.12. Đánh giá kết quả kiểm tra tái khám sau 1 tháng

3.13. Đánh giá kết quả

3.14. Các yếu tố liên quan đến kết quả tán sỏi

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm của nhóm bệnh nhân sỏi niệu quản

4.2. Đặc điểm chung

4.3. Đặc điểm về bệnh lý sỏi niệu quản

4.4. Đánh giá kết quả của pp TSNSND sử dụng năng lượng laser

4.5. Đánh giá kỹ thuật nội soi

4.6. Đánh giá kết quả điều trị

4.7. Các yếu tố liên quan đến kết quả điều trị

4.8. LQ giữa thời gian tán sỏi, kết quả điều trị với giới tính

4.9. LQ giữa thời gian phẫu thuật, kết quả điều trị với tính chất sỏi NQ

4.10. LQ giữa thời gian phẫu thuật và kết quả điều trị

4.11. Kết quả điều trị sỏi niệu quản bằng phương pháp tán sỏi nội soi ngược dòng sử dụng năng lượng Laser

4.12. Các yếu tố liên quan đến kết quả tán sỏi nội soi ngược dòng sử dụng năng lượng Laser để điều trị sỏi niệu quản

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Phụ lục 1 Mẫu bệnh án nghiên cứu

Tóm tắt

I. Tổng quan về tán sỏi niệu quản bằng laser Phương pháp hiệu quả

Tán sỏi niệu quản bằng laser là một trong những phương pháp điều trị hiện đại và hiệu quả nhất hiện nay. Phương pháp này không chỉ giúp loại bỏ sỏi mà còn giảm thiểu đau đớn cho bệnh nhân. Sử dụng công nghệ laser, quy trình này cho phép bác sĩ tiếp cận và phá vỡ sỏi thành những mảnh nhỏ, dễ dàng hơn trong việc tống ra ngoài cơ thể. Tán sỏi niệu quản bằng laser đã trở thành lựa chọn hàng đầu trong điều trị sỏi niệu quản, nhờ vào tính hiệu quả và an toàn của nó.

1.1. Tán sỏi niệu quản Định nghĩa và lợi ích

Tán sỏi niệu quản là phương pháp điều trị sỏi niệu quản bằng cách sử dụng năng lượng laser để phá vỡ sỏi thành những mảnh nhỏ. Lợi ích của phương pháp này bao gồm: giảm thiểu đau đớn, thời gian hồi phục nhanh chóng và tỷ lệ thành công cao. Nghiên cứu cho thấy, tán sỏi niệu quản bằng laser có thể đạt tỷ lệ thành công lên đến 90%.

1.2. Công nghệ laser trong y tế Một bước tiến lớn

Công nghệ laser đã được áp dụng rộng rãi trong y tế, đặc biệt trong điều trị sỏi niệu quản. Laser Holmium là loại laser phổ biến nhất được sử dụng trong tán sỏi. Công nghệ này cho phép bác sĩ điều chỉnh mức năng lượng và độ chính xác cao, giúp phá vỡ sỏi mà không gây tổn thương cho các mô xung quanh.

II. Vấn đề và thách thức trong điều trị sỏi niệu quản

Sỏi niệu quản là một trong những bệnh lý phổ biến trong hệ tiết niệu, gây ra nhiều vấn đề cho bệnh nhân. Các triệu chứng như đau lưng, tiểu khó, và nhiễm trùng đường tiết niệu thường gặp. Nếu không được điều trị kịp thời, sỏi niệu quản có thể dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng như suy thận. Việc lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp là rất quan trọng để đảm bảo sức khỏe cho bệnh nhân.

2.1. Triệu chứng và biến chứng của sỏi niệu quản

Triệu chứng của sỏi niệu quản bao gồm đau lưng, tiểu ra máu, và tiểu khó. Nếu không được điều trị, sỏi có thể gây tắc nghẽn đường tiểu, dẫn đến nhiễm trùng và suy thận. Việc phát hiện sớm và điều trị kịp thời là rất cần thiết để tránh các biến chứng nghiêm trọng.

2.2. Các phương pháp điều trị truyền thống và hạn chế

Trước khi có phương pháp tán sỏi niệu quản bằng laser, các phương pháp điều trị truyền thống như phẫu thuật mở hoặc điều trị nội khoa thường gặp nhiều hạn chế. Phẫu thuật mở có thể gây đau đớn và thời gian hồi phục lâu, trong khi điều trị nội khoa chỉ hiệu quả với sỏi nhỏ. Do đó, cần có một phương pháp điều trị hiệu quả hơn.

III. Phương pháp tán sỏi niệu quản bằng laser Quy trình và kỹ thuật

Quy trình tán sỏi niệu quản bằng laser bao gồm nhiều bước quan trọng. Đầu tiên, bệnh nhân sẽ được chuẩn bị và gây mê. Sau đó, bác sĩ sẽ đưa ống soi vào niệu quản để tiếp cận sỏi. Sử dụng laser, bác sĩ sẽ phá vỡ sỏi thành những mảnh nhỏ, giúp dễ dàng tống ra ngoài. Quy trình này thường diễn ra trong khoảng 30-60 phút và bệnh nhân có thể ra viện trong ngày.

3.1. Quy trình tán sỏi niệu quản bằng laser

Quy trình tán sỏi niệu quản bằng laser bắt đầu bằng việc gây mê cho bệnh nhân. Sau đó, bác sĩ sẽ đưa ống soi vào niệu quản để xác định vị trí sỏi. Sử dụng laser, bác sĩ sẽ phá vỡ sỏi thành những mảnh nhỏ, giúp dễ dàng tống ra ngoài. Quy trình này thường diễn ra trong khoảng 30-60 phút.

3.2. Kỹ thuật và thiết bị sử dụng trong tán sỏi

Kỹ thuật tán sỏi niệu quản bằng laser yêu cầu sử dụng các thiết bị chuyên dụng như máy laser Holmium. Thiết bị này cho phép bác sĩ điều chỉnh mức năng lượng và độ chính xác cao, giúp phá vỡ sỏi mà không gây tổn thương cho các mô xung quanh. Sự phát triển của công nghệ laser đã mang lại nhiều lợi ích cho bệnh nhân.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn của tán sỏi niệu quản bằng laser

Nghiên cứu cho thấy tán sỏi niệu quản bằng laser mang lại kết quả điều trị tích cực cho bệnh nhân. Tỷ lệ thành công cao và thời gian hồi phục nhanh chóng là những điểm mạnh của phương pháp này. Nhiều bệnh viện lớn tại Việt Nam đã áp dụng phương pháp này và ghi nhận những kết quả khả quan. Việc ứng dụng công nghệ laser trong điều trị sỏi niệu quản đã mở ra hướng đi mới cho y học.

4.1. Tỷ lệ thành công và hiệu quả điều trị

Tỷ lệ thành công của phương pháp tán sỏi niệu quản bằng laser đạt khoảng 90%. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng phương pháp này không chỉ hiệu quả trong việc loại bỏ sỏi mà còn giúp giảm thiểu đau đớn cho bệnh nhân. Thời gian hồi phục nhanh chóng cũng là một trong những ưu điểm nổi bật của phương pháp này.

4.2. Ứng dụng thực tiễn tại các bệnh viện lớn

Nhiều bệnh viện lớn tại Việt Nam đã áp dụng phương pháp tán sỏi niệu quản bằng laser và ghi nhận những kết quả khả quan. Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức là một trong những đơn vị tiên phong trong việc triển khai phương pháp này. Các bác sĩ tại đây đã thực hiện hàng trăm ca tán sỏi niệu quản bằng laser với tỷ lệ thành công cao.

V. Kết luận và tương lai của tán sỏi niệu quản bằng laser

Tán sỏi niệu quản bằng laser đã chứng minh được hiệu quả và tính an toàn trong điều trị sỏi niệu quản. Với sự phát triển không ngừng của công nghệ, phương pháp này hứa hẹn sẽ ngày càng hoàn thiện hơn, mang lại nhiều lợi ích cho bệnh nhân. Tương lai của tán sỏi niệu quản bằng laser sẽ tiếp tục được nghiên cứu và phát triển, mở ra nhiều cơ hội mới trong điều trị sỏi niệu quản.

5.1. Tương lai của công nghệ laser trong y tế

Công nghệ laser trong y tế đang ngày càng phát triển và mở rộng ứng dụng. Tán sỏi niệu quản bằng laser sẽ tiếp tục được cải tiến, giúp nâng cao hiệu quả điều trị và giảm thiểu rủi ro cho bệnh nhân. Nghiên cứu và phát triển công nghệ mới sẽ là chìa khóa cho sự tiến bộ trong lĩnh vực này.

5.2. Định hướng nghiên cứu và phát triển trong tương lai

Định hướng nghiên cứu trong tương lai sẽ tập trung vào việc cải thiện kỹ thuật tán sỏi niệu quản bằng laser, cũng như đánh giá hiệu quả lâu dài của phương pháp này. Các nghiên cứu sẽ tiếp tục được thực hiện để tìm ra những giải pháp tối ưu nhất cho bệnh nhân mắc sỏi niệu quản.

16/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN 1. GIẢI PHẪU, SINH LÝ CỦA NIỆU QUẢN. Sơ lược giải phẫu niệu quản. NQ có cấu trúc nằm sau phúc mạc gồm NQ phải và NQ trái.

Ở trên NQ liên tục với bể thận bởi khúc nối bể thận-niệu quản (BT-NQ), ở dưới liên tục với bàng quang (BQ). NQ của người trưởng thành trung bình dài khoảng 22 đến 30 cm, NQ trái dài hơn NQ phải và NQ ở nam dài hơn NQ ở nữ. Tuy nhiên chiều dài của NQ cũng thay đổi theo thể trạng và chiều cao của từng người [24]. Đường kính NQ ngoài từ 4 đến 5 mm tuỳ theo vị trí, đường kính trong 2-3mm có thể dãn rộng khoảng 7mm, thắt hẹp tự nhiên ở 3 chỗ: khúc nối BT - NQ, chỗ bắt chéo động mạch chậu và đoạn NQ đổ vào bàng quang.

Ở các vị trí này, viên sỏi thường kẹt lại và gây bế tắc dòng nước tiểu [93]. Phân chia và liên quan của các đoạn niệu quản. * Phân chia theo giải phẫu học đường đi của NQ chia làm 4 đoạn liên quan [24],[55]. - Đoạn bụng: Dài 9- 11 cm, liên quan ở sau với cơ thắt lưng chậu, các dây thần kinh đám rối thắt lưng, với các mõm ngang của các đốt sống từ L2- L5.

Liên quan phía trong bên phải với tĩnh mạch chủ và bên trái với động mạch chủ. Cùng đi song song với NQ xuống hố chậu có tĩnh mạch sinh dục. - Đoạn chậu: Dài 3- 4 cm, bắt đầu khi đi qua cánh xương cùng tới eo trên của xương chậu, liên quan với động mạch chậu: bên trái NQ bắt chéo động mạch 4 chậu gốc trên chỗ phân nhánh 1,5 cm, bên phải NQ bắt chéo động mạch chậu ngoài dưới chỗ phân nhánh 1,5 cm. Chú thích 1.

Cơ thắt lưng chậu 4. ĐM mạc treo tràng dưới 5. ĐM-TM sinh dục 6. TK sinh dục đùi 7.

ĐM đại tràng xích ma 8. ĐM trực tràng trên Hình 1. Đường đi của niệu quản nhìn từ phía trước. *Nguồn: Fröber S.

(2007), “Surgical anatomy of the ureter”, BJU International [69] - Đoạn chậu hông: Dài 12- 14 cm, NQ chạy từ eo trên xương chậu tới BQ, đoạn này NQ đi cạnh động mạch chậu trong rồi chạy chếch ra ngoài và ra sau theo đường cong của thành bên xương chậu. Tới nền chậu hông chỗ gai ngồi thì vòng ra trước và vào trong để tới BQ. Liên quan của NQ phía sau với khớp cùng chậu, cơ bịt trong, bó mạch thần kinh bịt bắt chéo phía sau NQ. Phía trước liên quan khác nhau giữa nam và nữ: + Nam: NQ chạy vào trước trực tràng, lách giữa BQ và túi tinh, bắt chéo ống tinh ở phía sau.

Ngoài ra còn hệ thống mạch máu tiểu khung rất phong phú. 5 + Nữ: NQ khi rời thành chậu hông đi vào đáy của dây chằng rộng tới mặt bên của âm đạo rồi đổ ra phía trước âm đạo và sau BQ. Khi qua phần giữa dây chằng rộng NQ bắt chéo sau động mạch tử cung. - Đoạn bàng quang: Dài từ 1- 1,5 cm.

NQ đi vào BQ theo hướng chếch từ trên xuống dưới vào trong và ra trước. NQ trước khi đổ vào BQ đã chạy trong thành BQ một đoạn, tạo thành một van sinh lý có tác dụng tránh trào ngược nước tiểu từ BQ lên NQ. Hai lỗ NQ cách nhau 2,5 cm (Khi BQ rỗng) và 5 cm khi BQ đầy [72]. * Phân chia trên phim X-quang: dựa vào phân loại của AUA, NQ được chia làm 3 đoạn [57]: - Niệu quản đoạn 1/3 trên từ khúc nối bể thận- NQ đến bờ trên xương cùng, tương ứng từ mỏm ngang cột sống L2 – L3 đến trên khớp cùng chậu trên X- Quang.

- Niệu quản đoạn 1/3 giữa từ bờ trên xương cùng đến đường tận cùng chậu hông gọi là eo trên tương ứng với đoạn khớp cùng chậu trên X-Quang. - Niệu quản đoạn 1/3 dưới từ eo chậu đến lỗ NQ tương ứng từ dưới khớp cùng chậu trở xuống trên X –Quang. Phân chia niệu quản trên phim chụp XQ. * Nguồn:Trần Văn Hinh (2013),"Giải phẫu hệ tiết niệu",Các phương pháp chẩn đoán và điều trị Bệnh sỏi tiết niệu, tr.

9-24[21] * Phân chia nội soi: NQ được chia làm 2 đoạn [69],[87]: - Niệu quản đoạn gần (hay NQ đoạn lưng) từ chỗ khúc nối bể thận- NQ tới chỗ bắt chéo bó mạch chậu. - Niệu quản đoạn xa (hay NQ đoạn chậu) từ chỗ NQ vắt ngang bó mạch chậu đến lỗ NQ đổ vào bàng quang. Hệ thống mạch máu và thần kinh niệu quản Mạch máu cung cấp NQ từ nhiều nhánh động mạch. Đoạn NQ trên do các nhánh tách ra từ động mạch thận, xuống dưới NQ nhận các nhánh tách ra từ động mạch chủ, động mạch trực tràng giữa, động mạch chậu, động mạch mạc treo tràng dưới, động mạch thừng tinh hay buồng trứng, động mạch bàng quang,…Các nhánh động mạch nối tiếp với nhau dọc NQ tạo thành một mạng lưới phong phú cung cấp máu cho NQ [24],[55],[58].

7 Các tĩnh mạch (TM) nhận máu từ NQ đổ về tĩnh mạch bàng quang, tĩnh mạch chậu dưới, tĩnh mạch thận ở trên. Bạch mạch của NQ xuất phát là những đám rối bạch mạch ở giữa lớp cơ và lớp áo ngoài. Bạch huyết đoạn NQ 1/3 trên theo các mạch thận đổ về các hạch thắt lưng; bạch huyết đoạn NQ 1/3 giữa đổ về các hạch dưới của chuỗi thắt lưng và các hạch chậu gốc. Bạch huyết từ đoạn NQ 1/3 dưới đổ về các hạch bạch huyết dọc theo ĐỘNG MẠCH chậu trong.

NQ được chi phối bởi TK tự động, xuất phát từ nhiều nguồn như đám rối động mạch thân tạng, đám rối động mạch thận, các hạch mạc treo, đám rối hạ vị trên và hạ vị dưới. Các sợi giao cảm xuất phát từ các sợi tiền hạch của tuỷ ngực XI, XII và tuỷ thắt lưng I. Các sợi phó giao cảm chi phối cho nửa trên NQ xuất phát từ đám rối động mạch thân tạng; các sợi chi phối nửa dưới NQ xuất phát từ đoạn tuỷ cùng II – III – IV [24],[55]. Nguồn mạch máu nuôi niệu quản *Nguồn: Skandalakis J., 2006, Skandalakis’ surgical anatomy [95] 1.

Cấu trúc mô học niệu quản Thành NQ dày 1-1,5mm, được chia thành 3 lớp: lớp niêm mạc, lớp cơ và lớp áo ngoài [55],[72],[93]. Lớp niêm mạc NQ liên tiếp ở dưới với niêm mạc BQ và ở trên liên tục với bể thận, bao gồm 4-6 lớp tế bào biểu mô chuyển tiếp, được đệm bởi 1 lớp tổ chức liên kết có khả năng co giãn, có nhiều mạch máu và sợi thần kinh không myelin. Cấu tạo lớp niêm mạc cho phép NQ căng và xẹp trong khi nhu động. Lớp cơ NQ bao gồm 3 lớp, 2 lớp cơ dọc ở trong và ở ngoài, xen giữa là lớp cơ vòng.

Tuy nhiên một số nghiên cứu cho thấy lớp cơ của NQ sắp xếp theo kiểu vòng xoắn (Marion, 1921; Dell Adian, 1950). 9 Lớp bao ngoài của NQ là lớp áo xơ bọc ngoài cùng, ở trên liên tiếp với bao xơ của thận ở đáy xoang thận, ở dưới hoà lẫn với thành BQ. Có nhiều mạch máu nối tiếp nhau, hệ thống thần kinh và một số tế bào hạch chi phối hoạt động của NQ. Chú thích 1.

Lớp niêm mạc 2. Lớp cơ niệu quản 3. Lớp bao ngoài 4. Cân giữ niệu quản 5.

ĐM –TM niệu quản 6. ĐM trong lớp bao ngoài 7. ĐM xuyên giữa các lớp cơ 8. Lớp tổ chức đệm nâng niêm mạc Hình 1.

Hình ảnh cắt ngang của niệu quản * Nguồn: Fröber S. Giải phẫu niệu quản ứng dụng trong nội soi niệu quản Trong khi soi BQ thường thấy lỗ NQ hình bầu dục, nhỏ như hạt đậu. Hai lỗ NQ cách nhau 2,5 cm (khi BQ rỗng) và 5 cm khi BQ đầy, cùng với cổ BQ tạo thành một tam giác cân. Vì vậy, muốn tìm lỗ NQ trong khi soi được thuận lợi, trong BQ nên có một lượng nước vừa phải đủ cho lỗ NQ giãn ra, nhưng không nên để BQ quá căng khiến cho 2 lỗ NQ cách xa nhau và vếch lên trên cao làm cho quá trình tìm và đặt ống soi vào lỗ NQ khó khăn.

NQ bình thường có đường kính trong tương đối đồng đều và giãn nở dễ dàng. NQ có 3 chỗ hẹp tự nhiên có thể nhận thấy trong nội soi là: lỗ NQ đổ vào BQ, đoạn NQ bắt chéo bó mạch chậu và khúc nối BT-NQ; mức độ hẹp tuỳ vào từng BN khác nhau, thông thường không ảnh hưởng đến nội soi. Tuy nhiên 10 một số trường hợp NQ hẹp nhiều không đưa được ống soi NQ lên nếu như không tiến hành nong NQ. Đường kính trung bình lòng NQ đoạn nối BT-NQ khoảng 2 mm, chỗ NQ bắt chéo động mạch chậu 4 mm, đoạn NQ trong thành BQ từ 1-5 mm; còn các vị trí NQ khác từ 5-10 mm [95] (Hình 1.

Khi soi NQ ở đoạn bắt chéo động mạch chậu có thể nhìn thấy rõ NQ nẩy theo nhịp đập của ĐM. Ống soi NQ đưa lên đoạn trên sẽ nhìn thấy NQ và bể thận di động theo nhịp thở, do thận bị cơ hoành đẩy xuống khi hít vào. Chỗ nối giữa đoạn cố định và di động của NQ là đặc điểm nhận dạng khi ống soi tới gần bể thận. Ở đây có thể nhìn thấy trong lòng NQ phía sau bên có điểm gờ niêm mạc NQ hoặc NQ gấp khúc, rõ hơn trong khi BN hít vào và nhận thấy ở thì thở ra.

Đường kính của niệu quản * Nguồn: Skandalakis JE et al (2006), “Kidneys and ureters”, Surgical anatomy, chapter 23[95] 11 Trong khi soi NQ, phẫu thuật viên phải tôn trọng sự mềm mại của NQ; chỉ cần đẩy dây dẫn đường vào thành NQ đoạn gấp khúc cũng có thể làm tổn thương niêm mạc NQ; di chuyển ống soi trong khi lòng NQ không đủ rộng có thể gây trợt niêm mạc NQ tạo thành một nếp gờ và chảy máu, làm cản trở cho quá trình soi; nếu tiếp tục đẩy ống soi lên sẽ gây bong niêm mạc NQ khỏi lớp dưới niêm mạc, gây nên thiếu máu nuôi dưỡng và là nguyên nhân hẹp NQ sau này. Trên phim chụp TTTM và qua soi NQ, đường đi của NQ từ BQ lên bể thận thay đổi hướng nhiều lần, dùng ống soi cứng để tiếp cận NQ 1/3 trên và bể thận sẽ gặp nhiều khó khăn. Sự ra đời của ống nội soi NQ mềm đã làm cho việc đưa ống soi lên NQ đoạn trên và bể thận trở nên dễ dàng hơn. Ở nam giới niệu đạo dài, vì vậy khi đưa ống soi lên đoạn NQ trên khó khăn hơn nữ giới, đặc biệt là trong trường hợp cương dương vật sau gây tê tủy sống.

Đối với BN phì đại tuyến tiền liệt, nếu thuỳ giữa của tuyến to cũng gây khó khăn nhiều khi đặt ống soi vào NQ. Các bất thường giải phẫu cũng ảnh hưởng đến kết quả soi NQ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ