CHƯƠNG 1 BẢO NINH VÀ HEINRICH BÖLL – NHỮNG NHÀ VĂN CẦM SÚNG, NHỮNG NHÀ VĂN CỦA THỜI HẬU CHIẾN 1. Hành trình sáng tác 1. Bảo Ninh với hành trình giữa hai dòng trong đục – tình yêu và chiến tranh Sau thắng lợi mùa xuân năm 1975, cùng với niềm hạnh phúc của hai chữ “độc lập”, dân tộc ta cũng đứng trước vô vàn khó khăn, thách thức, tuy tiếng súng đã dứt, tiếng bom đã lùi xa nhưng ai dám chắc cái tốt và cái xấu, thật và giả, thiện và ác. không ngừng đấu tranh.
Và con người lại tiếp tục sống, chiến đấu với các mối quan hệ đa đoan, phức tạp, đan chìm vào những mạch ngầm và mạch nổi của cuộc sống. Hiện thực đâu chỉ là đời sống cộng đồng cá nhân mà còn là hiện thực của mỗi con người với những vấn đề riêng tư cá thể. Bằng sự nhạy cảm bản năng, có lẽ đội ngũ nhà văn là người nhận ra điều này sớm nhất và nếm trải nó sâu sắc nhất. Trong đó, Bảo Ninh cũng không phải là một ngoại lệ.
Năm 1987, ông ra mắt bạn đọc tập truyện đầu tay mang tên Trại “bảy chú lùn” gồm 5 truyện ngắn: Trại “bảy chú lùn”, Âm vang những người mất tích, Bên lề cuộc tấn công, Tiếng vọng và Loan. Tất cả đều viết về chiến tranh. Ít lâu sau, cuốn tiểu thuyết đầu tay Nỗi buồn chiến tranh của ông xuất hiện. Đến năm 1991, tác phẩm đoạt giải Nhất giải thưởng Hội nhà văn cùng với hai tác phẩm khác Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường và Bến không chồng của Dương Hướng thì tên tuổi của Bảo Ninh mới thực sự nhận được sự chú ý của đông đảo bạn đọc và giới nghiên cứu, lý luận, phê bình.
Tâm sự về thành công ban đầu ấy, nhà văn bộc lộ: “Thật ra, đấy là sự ghi dấu của nền văn học Việt Nam thời đổi mới nên một tác giả mới như tôi vẫn được chú ý và cuốn Nỗi buồn chiến tranh đã được nhận giải thưởng vào thời kì đặc biệt đó, thời kì văn học có những thay đổi sâu sắc và đích 13 thực”. Là ông khiêm tốn vậy thôi chứ nhìn vào lịch sử văn học Việt Nam những năm sau Đổi mới, không nhiều cây bút có được tác phẩm ảnh hưởng mạnh mẽ cả trong và ngoài nước như Bảo Ninh. Cho đến nay, Nỗi buồn chiến tranh đã được chuyển ngữ và giới thiệu hơn 18 quốc gia trên thế giới. Vậy điều gì đã làm nên sự lan tỏa đặc biệt này? Về cơ bản, Nỗi buồn chiến tranh là một tác phẩm không có cốt truyện, tình tiết rành mạch mà chỉ là những mảng hồi ức chắp nối của nhân vật Kiên - một người lính của tiểu đoàn 27 hoạt động trên địa bàn B3 còn sống sót sau cuộc chiến tranh và về mối tình với cô bạn học trường Bưởi tên Phương.
Bước ra từ cuộc chiến, Bảo Ninh không nhìn chiến tranh bằng những con số khô khan, những tấm huân chương lấp lánh, những bản anh hùng ca khải hoàn như một số tác phẩm viết trong chiến tranh (như Sống mãi với Thủ đô của Nguyễn Huy Tưởng, Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu…). Trong Nỗi buồn chiến tranh, người lính được nhìn nhận bằng thái độ khách quan với sự thật trần trụi về nỗi đau, nỗi mất mát không gì bù đắp nổi còn chiến tranh hiện lên với tất cả sự ghê rợn, ám ảnh kinh hoàng… Nó không chỉ bi tráng, bi hùng mà còn là bi thảm. Tất cả những gì khốc liệt nhất, đau thương nhất đều được Bảo Ninh thể hiện trong tác phẩm. Nhưng song song với dòng chảy đầy bom đạn và cả máu ấy vẫn còn một mạch nguồn yêu thương âm ỉ, đó là tình yêu, là nội lực sức mạnh giúp người lính vượt qua tất cả.
Chiến tranh và tình yêu là hai dòng trong - đục của một dòng sông. Hai đối cực của một hiện thể. Tình yêu thì tạo sinh, chiến tranh thì hủy diệt. Bước ra từ cuộc chiến, Kiên lại đối mặt với những phũ phàng mới của thời hậu chiến, những mặt trái của xã hội - điều mà Kiên gọi là “tấn trò đời: Phương - người yêu của Kiên - một mối tình trinh trắng, đắm say.
đẹp như một bài thơ giờ trở thành tan nát - đau như một vết thương lòng. Phương trở thành một gái điếm, một ca kỹ. Bi kịch của người lính sau chiến tranh là chỗ đó họ không thể dung hòa với thực tại. Cuối tác phẩm hai 14 nhân vật chính Kiên và Phương đều bỏ đi, mỗi nhân vật là mỗi kiểu chối bỏ thực tại.
Vậy bức thông điệp của Nỗi buồn chiến tranh là gì, nếu không phả là sự phản ứng của Bảo Ninh đối với những mặt trái của xã hội Việt Nam sau chiến tranh? Tính chân thực của tác phẩm là ở đó. Bảo Ninh đã đem đến vinh quang cho nền văn học nước nhà bằng Giải thưởng châu Á 2011 – Nikkei Asia Prize. Đây là giải thưởng thường niên của báo Kinh tế Nhật Bản dành cho những cá nhân và tập thể người châu Á có cống hiến xuất sắc trên 3 lĩnh vực: kinh tế, kĩ thuật và văn hóa. Bảo Ninh được vinh danh ở hạng mục văn học với tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh.
Cuốn tiểu thuyết sau đó đã được dịch, giới thiệu tại Nhật Bản liên tiếp trong hai năm 1997, 1999 và được coi là một trong những tác phẩm kinh điển của văn học thế giới về chiến tranh. Sau Nỗi buồn chiến tranh, Bảo Ninh hầu như chỉ sáng tác truyện ngắn. Có người cho rằng dường như ông đã trút hết tâm huyết và bút lực vào cuốn tiểu thuyết đầu tay và sự thành công vang dội của nó đã thoải mãn niềm thôi thúc mạnh liệt là viết để giãi tỏa hết những mặt trái đồ sộ của chiến tranh nên sau này ông chuyển sang thể nghiệm với một thể loại mới – truyện ngắn. Với thể loại tự sự cỡ nhỏ này.
Ông cũng là một cây bút “có duyên” và gây được ấn tượng ban đầu với bạn đọc. Trong cuốn Truyện ngắn Bảo Ninh do Nxb Công an nhân dân ấn hành 2004 và cuốn Bảo Ninh - Lan man trong lúc kẹt xe - Những truyện ngắn hay nhất và mới nhất của Nxb Hội nhà văn 2005 có 28 truyện ngắn thì đến 22 truyện viết về đài tài chiến tranh và người lính, gồm: Ba lẻ một, Bên lề cuộc tấn công, Bí ẩn của làn nước, Cũ xưa, Giang, Mùa khô cuối cùng, Gọi con, Hà Nội lúc không giờ, Hỏa điểm cuối cùng, Hữu khuynh, La Mác - xây - e, Ngàn năm mây trắng, Rửa tay gác kiếm, Thách đấu, Tình thư, Tiếng vĩ cầm của quân xâm lăng, Kì ngộ, Lá thư từ Quí Sửu, Ngôi sao vô danh, Thời tiết 15 của kí ức, Trại “Bảy chú lùn”, Khắc dấu mạn thuyền. Sáu truyện ngắn còn lại viết về đề tài khác trong cuộc sống hiện tại sau chiến tranh. Mặc dù không viết trực tiếp về chiến tranh nhưng những tác phẩm ấy đều là hệ lụy nảy sinh từ chiến tranh.
Trong 22 truyện ngắn viết về đề tài chiến tranh và người lính chỉ có ba truyện được kể ở thời điểm hiện tại: La Mác - xây - e, Ngàn năm mây trắng, Kì ngộ còn lại là truyện xen lẫn giữa quá khứ và hiện tại. Trong 22 truyện ngắn ấy có 15 truyện nhân vật chính là người lính, gồm: Trại “Bảy chú lùn”, Ba lẻ một, Lá thư từ Quí Sửu, Ngôi sao vô danh, Rửa tay gác kiếm, Khắc dấu mạn thuyền, Bên lề cuộc tấn công, Hữu khuynh, Hà Nội lúc không giờ, Vô cùng xưa cũ, Giang, Mùa khô cuối cùng, Hỏa điểm cuối cùng, Thách đấu, Tình thư. Sự thống kê cho thấy viết về chiến tranh và người lính vẫn là “đề tài ruột” của Bảo Ninh. Đầu năm 2009, Nxb Văn học cho ra mắt tập truyện ngắn mới có cái tên đặc biệt Chuyện xưa kết đi, được chưa? gồm 14 truyện ngắn, trong đó có 7 truyện ngắn đã được đông đảo bạn đọc biết đến trước đó gồm: Mắc cạn, Bội phản, Gọi con, Thách đấu, Vô cùng xưa cũ, Giang, Hữu khuynh.
Còn lại 7 truyện ngắn mới là: Sách cấm, Cái búng, Mối ngờ, Bằng chứng, Chuyện xưa kết đi, được chưa?, Đêm trừ tịch, Quay lưng thì chỉ có Cái búng là không tác phẩm viết về chiến tranh. Tập truyện mang dáng vẻ giản đơn, là kí ức nho nhỏ của các cô cậu tuổi hồng với tình yêu trắng trong, thuần khiết, những câu chuyện gia đình… nhưng thực chất là những câu hỏi lớn của người lính hậu chiến, họ bơ vơ, mất phương hướng và không hiểu vì đâu những tình cảm vô tư ấy lại bị chết yểu? Bước ra khỏi cuộc chiến tranh, họ trở nên bỡ ngỡ và lạ lẫm với hiện thực thời bình. Họ như bị “mắc cạn” vào cái bản lề chuyển giao khắt khe của thời đại. Đó là những câu chuyện chưa bao giờ hết của hai thế hệ hôm qua và hôm nay.
16 Có thể nói mỗi truyện ngắn của Bảo Ninh mang đến một dư vị buồn, đó là những nỗi buồn của chiến tranh, nỗi cô độc “cô độc đến kinh người” hay nỗi buồn kéo dài đằng đẵng trong nhiều năm, hay đó là những nỗi đau khi chiến tranh đã đi qua… Trong hầu hết các truyện ngắn, nhà văn thường đưa ra những cảm nhận, suy nghĩ về nỗi đau buồn của chiến tranh: “Nếu rồi đây không may phải sống đời bất hạnh thì chúng tôi sẽ tự nhủ lòng rằng không sao cả, bởi có nỗi khổ nào của ngày hôm nay sánh bằng những đau khổ đã trải qua trong chiến tranh” [58; tr. Với những trang viết của mình, dù là tiểu thuyết hay truyện ngắn, người đọc vẫn thấy Bảo Ninh như người bộ hành phiêu lãng giữa hai dòng chủ lưu chiến tranh và tình yêu. Có thể nói, Bảo Ninh thuộc về một kiểu người viết đặc biệt của văn học Việt Nam hiện đại, những nhà văn từng đi qua chiến tranh với tư cách một người lính trên chiến trường nếm trải tất cả những hào quang, đau khổ của thời cuộc. Và những trái đắng ngày nào nay đã cho thêm quả ngọt, mới đây nhất vào ngày 2 tháng 9 năm 2016, một vinh dự và hạnh phúc lớn đã đến với tác giả của Nỗi buồn chiến tranh khi ông được nhận Giải thưởng văn học Sim Hun của Hàn Quốc vì những đóng góp xuất sắc cho văn học đương đại.
Heinrich Böll với hành trình đi tìm sự sống trong những cỗ xe tăng rỉ sét và hoang tàn Năm 1972, giải Nobel văn chương danh giá đã tôn vinh Heinrich Theodor Böll – bậc thầy của văn học hiện đại Đức. Ông nổi tiếng với những tác phẩm kết hợp tầm bao quát hiện thực rộng lớn với nghệ thuật xây dựng tính cách điển hình, đóng góp to lớn vào sự phục hồi của nền văn học Đức.