CHƯƠNG 1: SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP, HÌNH THỨC KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP TRONG MÔN TOÁN CẤP TIỂU HỌC 1. Định hướng đánh giá kết quả giáo dục trong dạy học môn Toán theo Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 Mục tiêu đánh giá kết quả giáo dục môn Toán là cung cấp thông tin chính xác, kịp thời, có giá trị về sự phát triển năng lực và sự tiến bộ của HS trên cơ sở yêu cầu cần đạt ở mỗi lớp học, cấp học; điều chỉnh các hoạt động dạy học, bảo đảm sự tiến bộ của từng HS và nâng cao chất lượng giáo dục môn Toán nói riêng và chất lượng giáo dục nói chung. Vận dụng kết hợp nhiều hình thức đánh giá (đánh giá thường xuyên, đánh giá định kì), nhiều phương pháp đánh giá (quan sát, ghi lại quá trình thực hiện, vấn đáp, trắc nghiệm khách quan, tự luận, kiểm tra viết, bài tập thực hành, các dự án/sản phẩm học tập, thực hiện nhiệm vụ thực tiễn,.) và vào những thời điểm thích hợp. Đánh giá năng lực HS trong dạy học môn Toán thông qua các bằng chứng biểu hiện kết quả đạt được trong quá trình thực hiện các hành động của học sinh.
Trong dạy học môn Toán theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh, chú trọng việc lựa chọn phương pháp, công cụ đánh giá các thành tố của năng lực toán học. Cụ thể: - Đánh giá năng lực tư duy và lập luận toán học: có thể sử dụng một số phương pháp, công cụ đánh giá như các câu hỏi (nói, viết), bài tập,. mà đòi hỏi HS phải trình bày, so sánh, phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá kiến thức; phải vận dụng kiến thức toán học để giải thích, lập luận. - Đánh giá năng lực mô hình hoá toán học: lựa chọn những tình huống trong thực tiễn làm xuất hiện bài toán toán học.
Từ đó, đòi hỏi HS phải xác định được mô hình toán học (gồm công thức, phương trình, bảng biểu, đồ thị,.) cho tình huống xuất hiện trong bài toán thực tiễn; giải quyết được những vấn đề toán học trong mô hình được thiết lập; thể hiện và đánh giá được lời giải trong ngữ cảnh thực tiễn và cải tiến được mô hình nếu cách giải quyết không phù hợp. - Đánh giá năng lực giải quyết vấn đề toán học: có thể sử dụng các phương pháp như yêu cầu người học nhận dạng tình huống, phát hiện và trình bày vấn đề cần giải quyết; mô tả, giải thích các thông tin ban đầu, mục tiêu, mong muốn của tình huống 9 vấn đề đang xem xét; thu thập, lựa chọn, sắp xếp thông tin và kết nối với kiến thức đã có; sử dụng các câu hỏi (có thể yêu cầu trả lời nói hoặc viết) đòi hỏi người học vận dụng kiến thức vào giải quyết vấn đề, đặc biệt các vấn đề thực tiễn; sử dụng phương pháp quan sát (như bảng kiểm theo các tiêu chí đã xác định), quan sát người học trong quá trình giải quyết vấn đề; đánh giá qua các sản phẩm thực hành của người học (chẳng hạn sản phẩm của các dự án học tập); quan tâm hợp lí đến các nhiệm vụ đánh giá mang tính tích hợp. - Đánh giá năng lực giao tiếp toán học: có thể sử dụng các phương pháp như yêu cầu người học nghe hiểu, đọc hiểu, ghi chép (tóm tắt), phân tích, lựa chọn, trích xuất được được các thông tin toán học cơ bản, trọng tâm trong văn bản nói hoặc viết; sử dụng được ngôn ngữ toán học kết hợp với ngôn ngữ thông thường trong việc trình bày, diễn đạt, nêu câu hỏi, thảo luận, tranh luận các nội dung, ý tưởng, giải pháp toán học trong sự tương tác với người khác. - Đánh giá năng lực sử dụng công cụ, phương tiện học toán: có thể sử dụng các phương pháp như yêu cầu người học nhận biết được tên gọi, tác dụng, quy cách sử dụng, cách thức bảo quản, ưu điểm, hạn chế của các công cụ, phương tiện học toán; trình bày được cách sử dụng (hợp lí) công cụ, phương tiện học toán để thực hiện nhiệm vụ học tập hoặc để diễn tả những lập luận, chứng minh toán học.
Khi GV lên kế hoạch bài học, cần thiết lập các tiêu chí và cách thức đánh giá để bảo đảm ở cuối mỗi bài học HS đạt được các yêu cầu cơ bản dựa trên các tiêu chí đã nêu, trước khi thực hiện các hoạt động học tập tiếp theo. Sử dụng phương pháp kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực HS đối với môn Toán Hiện nay, có hai hình thức kiểm tra, đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực HS phù hợp với thực tiễn giáo dục Việt Nam là đánh giá quá trình (ĐGTX) và đánh giá tổng kết (ĐGĐK). GV sẽ lựa chọn các phương pháp kiểm tra, đánh giá phù hợp với mục đích, thời điểm và yêu cầu của từng hình thức đánh giá; mỗi phương pháp cũng sẽ có những công cụ kiểm tra, đánh giá phù hợp (các công cụ này sẽ được trình bày cụ thể ở nội dung 3 của tài liệu). Mối quan hệ giữa hình thức, phương pháp và công cụ kiểm tra, đánh giá được thể hiện như sau: Bảng 1: Mối quan hệ giữa hình thức, phương pháp và công cụ đánh giá Hình thức ĐG Phương pháp (PP) đánh giá Công cụ đánh giá chung ĐG thường PP quan sát Ghi chép các sự kiện thường nhật, xuyên/ ĐG quá thang đo, bảng kiểm.
trình PP vấn đáp Câu hỏi (….) 10 (Đánh giá vì học PP đánh giá qua hồ sơ học tập Bảng quan sát, câu hỏi vấn đáp, tập; Đánh giá là phiếu đánh giá theo tiêu chí học tập) (Rubrics…) PP đánh giá qua sản phẩm học Bảng kiểm, thang đánh giá, phiếu tập đánh giá theo tiêu chí (Rubrics…) PP kiểm tra viết Câu trả lời ngắn, thẻ kiểm tra… ĐG định / ĐG PP kiểm tra viết Bài kiểm tra (câu hỏi tự luận, câu tổng kết PP đánh giá qua hồ sơ học tập hỏi trắc nghiệm), bài luận, phần (Đánh giá kết PP đánh giá qua sản phẩm học mềm biên soạn đề kiểm tra, bảng quả học tập) tập kiểm, phiếu đánh giá theo tiêu chí, thang đo. Phương pháp quan sát Trong quan sát, GV có thể sử dụng 3 loại công cụ để thu thập thông tin là: Ghi chép các sự kiện thường nhật, thang đo và bảng kiểm tra (bảng kiểm). Sử dụng công cụ bảng kiểm trong phương pháp quan sát để đánh giá năng lực HS lớp 1 thông qua hoạt động thực hành và trải nghiệm: Thực hành đo độ dài Nội dung28 Yêu cầu Xác nhận Có Không Lựa chọn cộng cụ đo độ Lựa chọn được công cụ đo độ dài dài phù hợp phù hợp với đối tượng cần đo Thực hiện đo độ dài với Đặt thước đúng vị trí cần đo công cụ đo đã chọn Hợp tác thực hiện đo độ dài Nêu đúng số đo độ dài của vật được đo Ghi chép số đo độ dài đã đo được Giải quyết vấn đề đơn giản Đặt và trả lời các câu hỏi về các kết liên quan đến các kết quả quả đo độ dài đã thực hiện đo Nêu được các nhận xét rút ra qua quá trình trải nghiệm thực hành đo Chỉ ra một số ứng dụng của việc đo độ dài trong thực tế. Hoạt động trên góp phần đánh giá các thành tố của năng lực toán học đó là tư duy (HS nhận biết độ dài của vật được đo), công cụ (HS phải lựa chọn được các công cụ, phương tiện), giải quyết vấn đề (Đặt và trả lời câu hỏi về các kết quả đo độ dài), Giao tiếp toán học (ghi chép và trình bày kết quả đo) 1.
Phương pháp vấn đáp 28 Bộ Giáo dục và Đào tạo, Chương trình phổ thông môn Toán 2018 11 Tuỳ theo vị trí của phương pháp vấn đáp trong quá trình dạy học, cũng như tuỳ theo mục đích, nội dung của bài, người ta phân biệt những dạng vấn đáp cơ bản sau: Vấn đáp gợi mở: là hình thức GV khéo léo đặt những câu hỏi gợi mở dẫn dắt HS rút ra những nhận xét, những kết luận cần thiết từ những sự kiện đã quan sát được hoặc những tài liệu đã học được, được sử dụng khi cung cấp tri thức mới. Vận dụng phương pháp vấn đáp gợi mở khi dạy HS nội dung: “Làm quen với phép trừ, dấu trừ”. (Toán 1) Yêu cầu HS quan sát bức tranh và trả lời câu hỏi: Lúc đầu trên cành có tất cả mấy con chim? Mấy con chim bay đi? Còn lại mấy con chim trên cành? Ta viết được phép tính gì ? Hình thức này có tác dụng khêu gợi tính tích cực của HS nhưng cũng đòi hỏi GV phải khéo léo, tránh đi đường vòng, lan man, xa vấn đề. Vấn đáp củng cố: Được sử dụng sau khi giảng kiến thức mới, giúp HS củng cố được những tri thức cơ bản nhất và hệ thống hoá chúng: mở rộng và đào sâu những tri thức đã thu lượm được, khắc phục tính thiếu chính xác của việc hiểu tri thức.
Vấn đáp củng cố sau khi dạy HS nội dung “Một phần ba” Đã khoanh vào hình nào? Hình A Hình B Hình C Hình D Để có được câu trả lời thì học sinh phải: - Quan sát các hình, phân tích để nhận ra số phần được chia đều, chia thành nhóm ở mỗi hình là bao nhiêu và số phần đã được khoanh. - Nhận ra hình A và hình D đã khoanh vào hình; còn hình B và hình C phần được khoanh không phải là hình. - Nêu được câu trả lời và giải thích được kết quả. 12 + Vấn đáp tổng kết: được sử dụng khi cần dẫn dắt HS khái quát hoá, hệ thống hoá những tri thức đã học sau một vấn đề, một phần, một chương hay một môn học nhất định.
Phương pháp này giúp HS phát triển năng lực khái quát hoá, hệ thống hoá, tránh nắm bắt những đơn vị tri thức rời rạc - giúp cho các em phát huy tính mềm dẻo của tư duy. Vấn đáp tổng kết sau khi dạy bài “Diện tích Hình chữ nhật” (Lớp 3) Muốn tính diện tích hình chữ nhất ta làm như thế nào? Vấn đáp kiểm tra: được sử dụng trước, trong và sau giờ giảng hoặc sau một vài bài học giúp GV kiểm tra tri thức HS một cách nhanh gọn kịp thời để có thể bổ sung củng cố tri thức ngay nếu cần thiết. Nó cũng giúp HS tự kiểm tra tri thức của mình. Vấn đáp kiểm tra sau khi dạy bài “Chục và đơn vị” (lớp 1) Số 65 gồm mấy chục và mấy đơn vị? Như vậy là tuỳ vào mục đích và nội dung bài học, GV có thể sử dụng 1 trong 4 hoặc cả 4 dạng phương pháp hỏi đáp nêu trên.