phần mở đầu và kết luận, kết cấu luận văn bao gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Một số cơ sở lý luận về tái cơ cấu kinh doanh của doanh nghiệp. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Chƣơng 2. Thực trạng cơ cấu kinh doanh và sự cần thiết khách quan của tái cơ cấu kinh doanh Công ty.
Định hƣớng, quan điểm và giải pháp tái cơ cấu kinh doanh của Công ty Cổ phần Hóa chất Việt Trì giai đoạn đến 2025 tầm nhìn 2030. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁI CƠ CẤU KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP. Hoạt động của doanh nghiệp luôn chịu sự tác động của các yếu tố môi trƣờng kinh doanh. Căn cứ vào mục tiêu, chiến lƣợc của doanh nghiệp, các nhà quản trị cấp cao thƣờng đƣa ra những quyết định về tổ chức nhằm tạo ra một cơ cấu tổ chức, linh hoạt để ứng phó với sự thay đổi của môi trƣờng kinh doanh.
Do vậy, việc nghiên cứu các vấn đề tái cơ cấu kinh doanh là một nhiệm vụ cần thiết để nhà quản trị lựa chọn và xây dựng một cơ cấu kinh doanh phù hợp với tình hình tế sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp. Một số khái niệm và lý luận cơ sở 1. Tái cơ cấu kinh doanh của doanh nghiệp 1. Khái niệm về tái cơ cấu kinh doanh Phạm vi của tái cơ cấu kinh doanh của doanh nghiệp rất rộng, đƣợc đề cập tới trên cả ba góc độ là thể chế, thiết chế và định chế.
Về thể chế, hoạt động tái cơ cấu doanh nghiệp nhằm định ra một trật tự mới thông qua các luật, văn bản dƣới luật để thực hiện quyền lực của Nhà nƣớc đối với các doanh nghiệp. Về thiết chế, đây là các quy định nội bộ, quy định các mối quan hệ “dọc ngang”, “trên dƣới” của các bộ phận cấu thành doanh nghiệp và đƣợc thể hiện thông qua hệ thống điều lệ, quy chế, quy định, nội quy cũng nhƣ hệ thống quy trình, quy phạm kỹ thuật chuyên ngành khác. Về định chế, đƣợc hiểu là các thành phần, bộ phận nhƣ là các Tổng Công ty, Công ty trong Tập đoàn hay các doanh nghiệp trong một Tổng Công ty, Tập đoàn. Về khía cạnh định chế, việc tái cơ cấu doanh nghiệp đƣợc thể hiện qua việc tách, nhập,thành lập mới, xóa bỏ các bộ phận, các doanh nghiệp con, các lĩnh vực kinh doanh nhằm hƣớng tới sự phù hợp và hiệu quả cao hơn.Có thể hiểu tổng quát tái cơ cấu doanh nghiệp là tổng hợp toàn bộ sự thay đổi cả về thể chế, thiết chế và định chế để quản lý doanh nghiệp theo một trật tự pháp luật chặt chẽ hơn, minh bạch hơn và hiệu quả hơn.
Trong bài viết này, tác giả mong muốn làm rõ hoạt động tái cơ cấu doanh nghiệp từ góc độ định chế, và xem xét trong mối quan hệ với thiết chế và thể chế nếu có. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Nhƣ trên đã nêu, thuật ngữ “tái cơ cấu doanh nghiệp” hiện nay đƣợc nhắc đến rất nhiều nhƣ một điều kì diệu giúp doanh nghiệp vƣợt qua khó khăn. Tuy nhiên, hiểu thế nào là tái cơ cấu doanh nghiệp thì lại là một vấn đề đang đƣợc bàn luận khá nhiều. Quan điểm thứ nhất: Tái cơ cấu kinh doanh của doanh nghiệp gắn với sự thay đổi của chiến lƣợc kinh doanh.
Quan điểm này cho rằng, tái cơ cấu là việc áp dụng vào điều chỉnh hƣớng chiến lƣợc cũng nhƣ tầm nhìn chiến lƣợc của doanh nghiệp. Từ đó dẫn đến việc phải thay đổi cách thức quản lý tài chính và nguồn nhân lực cho thích hợp. Nhiệm vụ của tái cơ cấu doanh nghiệp là tái cơ cấu chiến lƣợc kinh doanh của doanh nghiệp, xác định lại mục tiêu, tầm nhìn, sứ mệnh và chiến lƣợc kinh doanh của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp xác định các định hƣớng về lĩnh vực sản phẩm, thị trƣờng và khách hàng trong bối cảnh mới.Điều này giúp cho doanh nghiệp định hƣớng tốt về thị trƣờng-sản phẩm nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Sở dĩ phải điều chỉnh hƣớng chiến lƣợc kinh doanh là do sự thay đổi của môi trƣờng kinh doanh. Các doanh nghiệp nhận thấy việc tiếp tục áp dụng chiến lƣợc kinh doanh hiện tại không làm tăng hiệu quả kinh doanh, chiến lƣợc hiện tại tỏ ra không còn thích hợp trong điều kiện mới của thị trƣờng và môi trƣờng. Quan điểm thứ hai: Tái cơ cấu kinh doanh của doanh nghiệp tiếp cận theo hƣớng cắt giảm chi phí, thích hợp trong trƣờng hợp kinh tế suy thoái, khủng hoảng. Charles Hill và Gareth Jones (1998) cho rằng tái cơ cấu là quá trình cắt giảm lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Mục đích của tái cơ cấu doanh nghiệp theo quan điểm này là cắt giảm tới mức tối đa có thể nhằm đạt đƣợc sự “cải thiện vận hành” ở một mảng nào đó trong doanh nghiệp, hay chí ít là để doanh nghiệp có thể tồn tại đƣợc qua giai đoạn khó khăn của nền kinh tế. Điều này thể hiện trong các trƣờng hợp sau: - Quyết định cắt giảm chi phí khi phát hiện chi phí ở một khâu nào đó phát sinh quá lớn, vƣợt ra khỏi sự kiểm soát của doanh nghiệp; LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 - Quyết định loại bỏ, hoặc bán bớt một lĩnh vực kinh doanh để đầu tƣ cho lĩnh vực kinh doanh khác trong thời điểm khó khăn; - Quyết định thu hẹp quy mô để tồn tại qua thời kỳ suy thoái, khủng hoảng. Quan điểm thứ ba: Tái cơ cấu kinh doanh của doanh nghiệp tiếp cận theo hƣớng thay đổi, thiết lập hệ thống tổ chức mới, nhân sự mới nhằm nâng cao hiệu quả của tổ chức. Tái cơ cấu doanh nghiệp là việc sắp xếp, điều chỉnh lại cơ cấu hoạt động, cơ cấu tổ chức bộ máy, cơ cấu thể chế, cơ cấucác nguồn lực của doanh nghiệp bao gồm nguồn nhân lực và nguồn vốn.
Theo quan điểm này, các bộ phận trong tổ chức hoạt động không hiệu quả cần đƣợc loại bỏ hoặc tách, sáp nhập nhằm thống nhất trong công tác quản lý và ra quyết định. Cũng theo quan điểm này, nếu nhận thấy việc bố trí nhân sự hiện tại là chƣa ph hợp, chƣa phát huy đƣợc năng lực làm việc của nhân viên, hay chính sách nhân sự của doanh nghiệp chƣa thực tạo động lực cho ngƣời lao động thì doanh nghiệp nên điều chỉnh, tái cơ cấu bộ máy tổ chức để tìm kiếm tính phù hợp và hiệu quả. Nhƣ vậy quan điểm này nhấn mạnh vào cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp. Quan điểm thứ tư: Tái cơ cấu kinh doanh của doanh nghiệp tiếp cận theo hƣớng thay đổi, thiết lập, sắp xếp lại các quá trình kinh doanh trong doanh nghiệp.
Tái cơ cấu tiếp cận theo hƣớng tái cơ cấu quá trình kinh doanh. Bản chất là sắp xếp lại các quá trình cốt lõi của doanh nghiệp để tăng hiệu quả, tính cạnh tranh, và đảm bảo tính hiệu quả. Trong điều kiện hội nhập hiện nay thì tái cơ cấu doanh nghiệp hƣớng tới việc thay đổi các tƣ duy trong quản lý, tái cơ cấu lại các quá trình kinh doanh phù hợp với định hƣớng kinh doanh của doanh nghiệp. Quan điểm này về tái cơ cấu doanh nghiệp trên cơ sở thiết kế lại các quá trình kinh doanh trong doanh nghiệp.
Xuất phát từ các quan niệm trên, ta thấy tái cơ cấu kinh doanh của doanh nghiệp có nhiều cách hiểu khác nhau theo từng cách tiếp cận khác nhau. Có thể đƣa ra một quan điểm chung nhƣ sau: Tái cơ cấu kinh doanh của doanh nghiệp là quá trình thay đổi định hƣớng chiến lƣợc kinh doanh; thiết lập lại cơ cấu tổ chức bộ máy, cơ cấu nguồn lực; cắt LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 giảm hoặc phát triển mới các lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh; thiết kế lại các quá trình kinh doanh trong doanh nghiệp nhằm đạt đƣợc mục tiêu đặt ra trong điều kiện môi trƣờng kinh doanh luôn biến động. Sự cần thiết phải thực hiện tái cơ cấu kinh doanh Trong bối cảnh kinh tế gặp nhiều khó khăn cũng nhƣ những nguyên nhân nội tại, nhiều Công ty lớn của Việt Nam đã kinh doanh thua lỗ, nợ nần chồng chất và có dấu hiệu rõ ràng của tình trạng mất khả năng thanh toán. Tuy nhiên, mấu chốt là phần lớn khó khăn về vốn của doanh nghiệp không phải do khó tiếp cận vốn vay ngân hàng, mà xuất phát từ sai lầm về cơ cấu vốn và đầu tƣ vốn.
Trong giai đoạn 2017-2019, kinh tế phát triển mạnh, doanh nghiệp huy động vốn rất thuận lợi. Đa số doanh nghiệp đã chọn tăng trƣởng bằng việc vay vốn, sử dụng đòn bảy tài chính thay vì có cơ cấu cân đối giữa vốn chủ sở hữu và nợ. Hơn nữa, vay vốn đƣợc xem là có lợi hơn so với huy động vốn cổ phần, bởi lãi suất vay vốn thƣờng thấp hơn kỳ vọng sinh lời của vốn cổ phần, nên nhiều Công ty niêm yết d đã huy động vốn cổ phần rất lớn, song vẫn huy động thêm nhiều nguồn vốn từ ngân hàng nhằm tận dụng lợi thế của vốn vay. Thực tế cho thấy, thời gian gần đây, doanh nghiệp Việt Nam đã sử dụng công cụ nợ vay quá lớn, đến khi các lĩnh vực kinh doanh đi vào giai đoạn bão hoà (nhƣ bất động sản), kinh tế vĩ mô trong nƣớc biến động tiêu cực (lãi suất vốn vay cao, lạm phát cao, tăng trƣởng thấp…), hay khó khăn từ môi trƣờng vĩ mô thế giới (nhƣ biến động tỷ giá), thì doanh nghiệp không còn năng lực tài chính để chống đỡ, trong khi lãi vay quá lớn có thể đẩy họ đến chỗ phá sản.
Không những vậy, xu thế một thời đầu tƣ đa ngành, đa nghề, đa lĩnh vực (đầu tƣ vào Công ty con, Công ty LDLK) không thuộc ngành nghề kinh doanh chính, cốt lõi đã làm cho các doanh nghiệp phân tán nguồn lực, “chôn ” vốn vào lĩnh vực SXKD không hiệu quả, khó thu hồi, thậm chí mất vốn. Nợ vay với một tỷ lệ hợp lý và tập trung vào các hoạt động kinh doanh tạo ra nguồn thu sẽ giúp doanh nghiệp tăng trƣởng, nhƣng nếu nợ quá cao sẽ tạo ra chi phí LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 “hao mòn” doanh nghiệp rất nghiêm trọng, làm suy giảm năng lực cạnh tranh, dần dần đẩy doanh nghiệp tới chỗ phá sản. Để giải quyết vấn đề dòng tiền và khó khăn về tài chính trong ngắn hạn, doanh nghiệp có thể sử dụng các giải pháp tình thế (nhƣ cắt giảm chi phí hoạt động), tuy nhiên điều này có thể làm suy yếu chất lƣợng kinh doanh, giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.