Tổng quan nghiên cứu

Khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) giữ vai trò xương sống trong nền kinh tế Việt Nam với quy mô quản lý hơn 1.760 nghìn tỷ đồng tổng tài sản tính đến năm 2011 và đóng góp bình quân 34% GDP hàng năm. Tuy nhiên, hiệu quả vận hành của khối này bộc lộ nhiều bất cập nghiêm trọng khi phải tiêu tốn 2,2 đồng vốn để tạo ra 1 đồng doanh thu năm 2009, cao hơn đáng kể so với mức 1,2 đồng của khu vực tư nhân. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là nhận diện, mổ xẻ những xung đột và lỗ hổng trong hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh quá trình cơ cấu lại DNNN tại Việt Nam.

Mục tiêu cụ thể của công trình tập trung vào ba phương diện: hệ thống hóa cơ sở lý luận về địa vị pháp lý của DNNN; đánh giá thực trạng các quy định điều chỉnh 4 khía cạnh then chốt gồm lĩnh vực kinh doanh, quản trị nội bộ, mô hình tổ chức và cơ chế quản lý nhà nước; từ đó xây dựng các định hướng hoàn thiện khung pháp luật nhằm nâng cao tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu vượt mức 16,5% và kiểm soát khối nợ vay ngân hàng 415.347 tỷ đồng của toàn khối.

Phạm vi nghiên cứu được xác định trọng tâm trong giai đoạn 2006 - 2014, gắn liền với tiến trình thực thi Luật Doanh nghiệp 2005 và Đề án tái cơ cấu DNNN theo Quyết định số 929/QĐ-TTg giai đoạn 2011 - 2015 trên phạm vi cả nước, có đối chiếu với kinh nghiệm của Liên bang Nga, Cộng hòa Liên bang Đức và Singapore. Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện ở việc cung cấp luận cứ pháp lý thực chứng, tạo tiền đề giải quyết dứt điểm tình trạng thua lỗ kéo dài tại các tập đoàn kinh tế và thúc đẩy môi trường cạnh tranh bình đẳng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng của hai lý thuyết kinh tế - pháp lý căn bản: Lý thuyết thể chế kinh tế mới (New Institutional Economics) và Lý thuyết người đại diện (Principal-Agent Theory). Lý thuyết thể chế giải thích cách thức các quy định pháp luật định hình hành vi doanh nghiệp và xác lập chi phí giao dịch trên thị trường. Lý thuyết người đại diện làm sáng tỏ xung đột lợi ích giữa chủ sở hữu nhà nước và người quản lý trực tiếp tại doanh nghiệp khi thiếu vắng cơ chế kiểm tra, giám sát hữu hiệu. Đồng thời, nghiên cứu vận dụng bộ nguyên tắc quản trị công ty của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế ban hành năm 2010 (OECD Principles of Corporate Governance 2010) để làm thước đo đánh giá tính minh bạch và trách nhiệm giải trình.

Hệ thống khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa trong luận văn bao gồm:

  1. Doanh nghiệp nhà nước: Tổ chức kinh tế do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc cổ phần chi phối theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2005, tồn tại dưới hai hình thức pháp lý chính là Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên (100% vốn nhà nước) và Công ty Cổ phần hoặc Công ty Trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có phần vốn chi phối của Nhà nước.
  2. Tái cơ cấu DNNN: Quá trình sắp xếp lại theo cả chiều dọc (tập trung vào các ngành công nghiệp mũi nhọn) và chiều ngang (tối ưu hóa chuỗi giá trị liên ngành), tái định hình cơ cấu sở hữu, quản trị và thoái vốn ngoài ngành.
  3. Đại diện chủ sở hữu nhà nước: Cơ chế phân định thẩm quyền quản lý vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp giữa Chính phủ, các Bộ quản lý ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
  4. Môi trường cạnh tranh bình đẳng: Trạng thái pháp lý không phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế về tiếp cận nguồn lực tín dụng, đất đai và cơ hội kinh doanh.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam từ Sắc lệnh 104/SL năm 1948, Nghị định 388/HĐBT năm 1991, Luật DNNN năm 1995, năm 2003 đến Luật Doanh nghiệp năm 2005, cùng các báo cáo tài chính, thanh tra, kiểm toán chính thức của Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư giai đoạn 2006 - 2013.

Luận văn tiến hành khảo sát trên cỡ mẫu gồm 96 tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước đại diện cho 1.309 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước trên toàn quốc. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu định chuẩn phi xác suất (purposive sampling), tập trung vào các đơn vị có quy mô vốn pháp định từ 500 tỷ đồng đến trên 1.000 tỷ đồng và nắm giữ thị phần trọng yếu trong các lĩnh vực điện lực, dầu khí, viễn thông, khoáng sản, giao thông.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích luật học so sánh kết hợp với thống kê định lượng và logic quy nạp là nhằm bảo đảm tính xác thực khi đối chiếu giữa quy định trên văn bản và thực tiễn thực thi. Phương pháp so sánh quốc tế giữa mô hình Holding Temasek của Singapore, doanh nghiệp công pháp của Đức và mô hình tập đoàn của Nga cho phép rút ra các bài học thực tiễn phù hợp với điều kiện chuyển đổi kinh tế tại Việt Nam trong timeline nghiên cứu từ năm 2011 đến 2014.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích dữ liệu thực chứng mang lại 4 phát hiện pháp lý quan trọng:

Thứ nhất, hiệu quả sử dụng nguồn lực của khu vực DNNN thấp hơn rõ rệt so với các thành phần kinh tế khác dù được hưởng nhiều ưu đãi. Số liệu thống kê chỉ ra rằng DNNN cần 2,2 đồng vốn để tạo 1 đồng doanh thu, trong khi doanh nghiệp ngoài nhà nước chỉ cần 1,2 đồng (hiệu quả cao hơn 83,3%) và doanh nghiệp FDI cần 1,3 đồng. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) bình quân của các tập đoàn chỉ đạt 16,5% năm 2010, xấp xỉ bằng chi phí vay vốn trung bình của hệ thống ngân hàng thương mại cùng thời kỳ.

Thứ hai, rủi ro tài chính tập trung cao độ tại một số ít tập đoàn kinh tế lớn với dư nợ tín dụng ở mức báo động. Đến tháng 9/2011, tổng dư nợ vay ngân hàng của khối DNNN lên tới 415.347 tỷ đồng, chiếm 16,9% tổng dư nợ toàn ngành ngân hàng. Trong đó, 12 tập đoàn kinh tế nhà nước gánh khoản nợ 218.738 tỷ đồng, chiếm 52,66% tổng dư nợ của cả khối DNNN. Tổng số lỗ lũy kế đến ngày 31/12/2011 của các tập đoàn, tổng công ty vượt 26.000 tỷ đồng, cá biệt có đơn vị ghi nhận mức lỗ kỷ lục như Tập đoàn Điện lực Việt Nam với 12.313 tỷ đồng năm 2010 và Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam với hơn 5.000 tỷ đồng năm 2009.

Thứ ba, hoạt động đầu tư dàn trải ngoài ngành cốt lõi diễn ra tràn lan nhưng thiếu cơ chế kiểm soát rủi ro hữu hiệu. Nhiều tập đoàn bố trí kế hoạch vốn đầu tư hàng năm cao gấp 1,5 đến 3,1 lần vốn điều lệ thực có, dẫn đến việc năm 2011 cơ quan quản lý phải cắt giảm, đình hoãn tiến độ 31,01% tổng số dự án với giá trị tương đương 10,72% tổng vốn kế hoạch.

Thứ tư, 80% tổng lợi nhuận toàn khối DNNN chỉ tập trung tại 5 đơn vị lớn gồm Dầu khí, Viễn thông Quân đội, Bưu chính Viễn thông, Than Khoáng sản và Cao su, cho thấy mức độ phân hóa nghiêm trọng và tình trạng phụ thuộc vào khai thác tài nguyên và độc quyền tự nhiên.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các hạn chế trên xuất phát từ sự chồng chéo, mâu thuẫn trong các quy định pháp luật điều chỉnh. Hiện tượng "vừa đá bóng, vừa thổi còi" của các Bộ quản lý ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh làm mờ nhạt ranh giới giữa chức năng quản lý nhà nước về mặt hành chính và quyền đại diện chủ sở hữu vốn. Việc xem xét trách nhiệm tài sản của người đại diện vốn còn mang tính hình thức, khiến mức lỗ bình quân của một DNNN cao gấp 12 lần so với doanh nghiệp dân doanh.

So với mô hình quản trị tại Singapore, nơi Luật Công ty áp dụng thống nhất với chế tài xử phạt tù tới 1 năm đối với giám đốc vi phạm nghĩa vụ cẩn trọng, pháp luật Việt Nam giai đoạn này còn thiếu chế tài mang tính răn đe thực tế. Đối chiếu với thông lệ tại Đức, nơi quy định các nhiệm vụ công phải được tư nhân hóa nếu vận hành kém hiệu quả, các DNNN Việt Nam vẫn được duy trì cơ chế bảo hộ ngầm, khó bị phá sản do vị thế độc quyền.

Toàn bộ các phát hiện về tương quan sử dụng vốn, cơ cấu phân bổ nợ vay và tỷ lệ dự án bị đình hoãn có thể được mô hình hóa trực quan thông qua biểu đồ cột so sánh hệ số sử dụng vốn giữa các thành phần kinh tế, kết hợp bảng thống kê đa chiều phân tích tỷ lệ đòn bẩy tài chính của 12 tập đoàn kinh tế trọng điểm.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp pháp lý mang tính đột phá nhằm tháo gỡ điểm nghẽn cho tiến trình tái cơ cấu:

Thứ nhất, hoàn thiện hành lang pháp lý nhằm thiết lập môi trường cạnh tranh bình đẳng, xóa bỏ triệt để các hình thức ưu đãi ngầm và bao cấp đối với DNNN. Cơ quan lập pháp cần sửa đổi Luật Cạnh tranh và các văn bản hướng dẫn, bãi bỏ quy chế chỉ định thầu, ưu đãi tiếp cận đất đai và bảo lãnh tín dụng ngân sách đối với các khoản vay thương mại. Mục tiêu cần đạt là 100% DNNN vận hành theo nguyên tắc thị trường trước năm 2015 dưới sự giám sát độc lập của Bộ Công Thương và Hội đồng Cạnh tranh.

Thứ hai, tách bạch tuyệt đối chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước ra khỏi chức năng quản lý hành chính nhà nước. Chính phủ cần sớm thành lập cơ quan chuyên trách làm đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước độc lập (theo mô hình Ủy ban Quản lý vốn tương tự SASAC của Trung Quốc hoặc nâng cấp Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước - SCIC). Lộ trình thực hiện cần hoàn tất việc chuyển giao 100% quyền đại diện chủ sở hữu từ các Bộ chuyên ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về cơ quan chuyên trách trong giai đoạn 2014 - 2016.

Thứ ba, cải cách toàn diện khung pháp lý về quản trị nội bộ DNNN theo tiêu chuẩn quốc tế. Bộ Tài chính và Bộ Kế hoạch và Đầu tư cần ban hành thông tư bắt buộc áp dụng chuẩn mực OECD, trong đó quy định Hội đồng thành viên hoặc Hội đồng quản trị phải có tối thiểu 1/3 đến 50% số lượng thành viên là giám đốc độc lập không điều hành. Thiết lập bắt buộc Ủy ban kiểm toán trực thuộc Hội đồng quản trị tại 96 tập đoàn, tổng công ty trong thời hạn 12 tháng kể từ khi quy định có hiệu lực.

Thứ tư, đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa và thoái vốn đầu tư ngoài ngành. Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển Doanh nghiệp cần quy định thời hạn cụ thể buộc các tập đoàn phải hoàn thành thoái 100% vốn đầu tư tại các lĩnh vực nhạy cảm gồm ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, quỹ đầu tư và bất động sản trước năm 2015, đồng thời giảm tỷ lệ nắm giữ vốn của Nhà nước xuống dưới 50% tại các doanh nghiệp thương mại thông thường.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo chuyên sâu phục vụ cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Các chuyên viên, nhà lập pháp tại Bộ Tư pháp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Văn phòng Chính phủ có thể sử dụng các phân tích pháp lý làm cơ sở thực tiễn để sửa đổi Luật Doanh nghiệp, xây dựng Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp.
  2. Ban lãnh đạo và Hội đồng thành viên các Tập đoàn, Tổng công ty: Cung cấp khung đối chiếu pháp lý và kinh nghiệm quốc tế giúp xây dựng đề án tái cơ cấu nội bộ, quản trị danh mục vốn đầu tư và xử lý khối dư nợ vay trên 200 nghìn tỷ đồng theo đúng định hướng của Chính phủ.
  3. Chuyên gia tư vấn pháp lý và tái cấu trúc doanh nghiệp: Các luật sư, chuyên gia thẩm định M&A có thể ứng dụng các phân tích về quyền đại diện sở hữu và thoái vốn ngoài ngành để tư vấn cấu trúc giao dịch cổ phần hóa cho hơn 500 doanh nghiệp nhà nước trong danh mục chuyển đổi.
  4. Giảng viên, học viên cao học và nhà nghiên cứu Luật Kinh tế: Nguồn tài liệu học thuật giá trị với hơn 90 tài liệu tham khảo chuẩn mực, cung cấp bức tranh toàn cảnh về tiến trình chuyển đổi thể chế kinh tế của Việt Nam giai đoạn 1948 - 2014.

Câu hỏi thường gặp

Khái niệm Doanh nghiệp Nhà nước theo Luật Doanh nghiệp 2005 được phân định như thế nào? Theo Luật Doanh nghiệp 2005 và Nghị định 99/2012/NĐ-CP, DNNN bao gồm doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ (Công ty TNHH Một thành viên) và doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ (Công ty Cổ phần, Công ty TNHH Hai thành viên trở lên). Khái niệm này đã mở rộng đáng kể so với Luật DNNN năm 1995.

Vì sao việc thoái vốn ngoài ngành của các tập đoàn kinh tế lại mang tính cấp bách? Việc đầu tư dàn trải vào bất động sản, chứng khoán, ngân hàng khi năng lực quản trị chưa đáp ứng đã tạo ra khối lỗ lũy kế hơn 26.000 tỷ đồng và gánh nặng nợ 218.738 tỷ đồng tại 12 tập đoàn lớn. Thoái vốn giúp tập trung toàn bộ nguồn lực tài chính vào ngành nghề kinh doanh cốt lõi.

Mô hình quản trị doanh nghiệp nhà nước của Singapore mang lại bài học then chốt nào? Singapore tách biệt hoàn toàn giữa chức năng sở hữu nhà nước và quản trị điều hành thông qua mô hình Temasek Holdings. DNNN vận hành 100% theo Luật Công ty, thuê nhân sự quản lý xuất sắc trên toàn cầu và áp dụng chế tài phạt tù đến 1 năm nếu giám đốc vi phạm trách nhiệm quản trị.

Những rào cản pháp lý lớn nhất làm chậm tiến độ cổ phần hóa giai đoạn 2006 - 2014 là gì? Rào cản chính gồm việc xác định giá trị quyền sử dụng đất, xử lý các khoản nợ tồn đọng và quy định duy trì tỷ lệ sở hữu nhà nước trên 51% tại các doanh nghiệp không thuộc diện thiết yếu, làm giảm sức hút đối với các nhà đầu tư chiến lược có năng lực.

Đề án 929/QĐ-TTg đặt ra mục tiêu cốt lõi nào cho quá trình tái cơ cấu DNNN? Đề án đặt mục tiêu tái cấu trúc toàn diện 100% tập đoàn, tổng công ty nhà nước giai đoạn 2011 - 2015, tập trung vào ngành then chốt, nâng cao tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu, thoái sạch vốn ngoài ngành và phát huy vai trò chủ đạo đóng góp khoảng 35% GDP cho nền kinh tế.

Kết luận

  1. Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về chế định DNNN, chỉ rõ sự phát triển qua 4 giai đoạn lịch sử từ Sắc lệnh 104/SL năm 1948 đến Luật Doanh nghiệp 2005.
  2. Thực chứng làm sáng tỏ các điểm nghẽn thể chế khiến 1.309 DNNN sử dụng vốn kém hiệu quả (2,2 đồng vốn/1 đồng doanh thu) và tích tụ hơn 26.000 tỷ đồng nợ lỗ lũy kế.
  3. Khẳng định sự cấp thiết phải chấm dứt tình trạng bảo hộ độc quyền và rủi ro tín dụng đối với khối nợ 415.347 tỷ đồng của khối doanh nghiệp công.
  4. Đề xuất mô hình phân định triệt để giữa chức năng quản lý hành chính nhà nước và chức năng chủ sở hữu vốn thông qua cơ quan chuyên trách độc lập.
  5. Xác lập khung lộ trình quản trị theo chuẩn mực OECD với mục tiêu bố trí 1/3 đến 50% giám đốc độc lập trong ban lãnh đạo doanh nghiệp.

Đóng góp lớn nhất của nghiên cứu là xây dựng luận cứ hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật cho giai đoạn 2015 - 2020. Các nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý được khuyến khích tiếp tục phát triển các hướng nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế định giá tài sản vô hình và giám sát tài chính điện tử đối với vốn nhà nước tại doanh nghiệp.