Chương 1: Những vấn đề cơ bản về DNNN, về tái cơ cấu DNNN. - Chương 2: Thực trạng hoạt động của DNNN, thực trạng các quy định hiện hành và các vấn đề pháp lý đặt ra khi DNNN tái cơ cấu. - Chương 3: Một số đề xuất pháp lý khi DNNN thực hiện tái cơ cấu. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 – NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DNNN, VỀ TÁI CƠ CẤU DNNN 1.
Khái luận về DNNN 1.Khái niệm Doanh nghiệp Nhà nƣớc ở Việt Nam Doanh nghiệp nhà nước có lịch sử tồn tại khá lâu đời và hiện đang giữ vai trò chủ đa ̣o trong điề u kiê ̣n kinh tế thi ̣trường ở Việt Nam hiê ̣n nay. Trong từng giai đoạn khác nhau, quan điểm pháp lý về DNNN cũng có những đặc thù và thay đổ i nhất định phù hợp với thực tiễn kinh doanh. Theo Sắc lệnh số 104/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành ngày 01/1/1948, DNNN lúc bấy giờ được gọi là doanh nghiệp quốc gia. Điều 2 Sắc lệnh ghi nhận “Doanh nghiệp quốc gia là một doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của quốc gia và do quốc gia điều khiển”.
Sau đó, những đơn vị kinh tế của nhà nước được gọi là xí nghiệp quốc doanh, lâm trường quốc doanh, cửa hàng quốc doanh,. Thuật ngữ DNNN được sử dụng chính thức trong Nghị định 388/HĐBT ngày 20 tháng 11 năm 1991 của Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quy chế về thành lập và giải thể doanh nghiệp nhà nước. Theo đó, DNNN được định nghĩa là tổ chức kinh doanh do nhà nước thành lập, đầu tư vốn và quản lý với tư cách chủ sở hữu. DNNN là một pháp nhân kinh tế, hoạt động theo pháp luật và bình đẳng trước pháp luật (Điều 1 Nghị định 388/HĐBT).
Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 1995 ra đời đã định nghĩa cụ thể hơn về DNNN như sau: Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do nhà nước giao. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động, kinh doanh trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản lý. Doanh nghiệp nhà nước có tên gọi, có con dấu riêng và có trụ sở chính trên lãnh thổ Việt Nam. DNNN theo cách hiểu này đã được tiếp cận điều chỉnh bởi pháp luật có sự khác biệt rõ rệt với các loại hình doanh nghiệp khác về vấn đề chủ sở hữu cũng như tổ chức và quản lý hoạt động của doanh nghiệp.
Cũng theo luật này, DNNN nước tồn tại dưới các hình thức: doanh nghiệp độc lập, tổng công ty, doanh nghiệp thành viên của tổng công ty. Từ những thay đổi về tư duy quản lý kinh tế và điều chỉnh pháp luật đối với các doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp nhà nước 2003 đã có định nghĩa mới về DNNN. Theo Luật này, DNNN được hiểu là tổ chức kinh tế do nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn. So sánh khái niệm “doanh nghiệp nhà nước” trong Luật Doanh nghiệp nhà nước 1995, khái niệm DNNN nước theo Luật Doanh nghiệp nhà nước 2003 có một số thay đổi như sau: - Nội dung rộng hơn, bao gồm không chỉ doanh nghiệp 100% sở hữu nhà nước, mà cả DNNN nắm cổ phần hay có phần góp vốn chi phối; - Loại hình doanh nghiệp cũng đa dạng hơn, bao gồm cả công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần; - Không xác định mục tiêu cụ thể của DNNN là thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do nhà nước giao; - Không còn khái niệm doanh nghiệp công ích.
Luật Doanh nghiệp 2005 ra đời đã chính thức chấm dứt hiệu lực của Luật Doanh nghiệp nhà nước 2003, mở ra một thời kỳ mới cho DNNN khi đứng trong môi trường bình đẳng với tất cả các doanh nghiệp khác. Tuy nhiên, khái niệm về 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com DNNN thì gần như không thay đổi, DNNN vẫn là những doanh nghiệp trong đó nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ. Tại văn bản gần đây nhất là Nghị định 99/2012/NĐ-CP của Chính phủ về phân công, phân cấp thực hiện các quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với DNNN và vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, DNNN cũng được chia ra làm các loại như: - DNNN nắm giữ 100% vốn điều lệ là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên; - Doanh nghiệp mà nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên. Đặc điểm của doanh nghiệp nhà nƣớc ở Việt Nam Từ khái niệm về DNNN ở trên, có thể rút ra một số đặc điểm cơ bản của DNNN đó là: - Thứ nhất, về sở hữu, nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối.
Kể từ khi Luật Doanh nghiệp nhà nuớc 2003 ra đời, đặc điểm này đã được nhấn mạnh. Theo đó, không chỉ những doanh nghiệp do nhà nước sở hữu 100% vốn mới được coi là DNNN, mà những doanh nghiệp có vốn góp chi phối của nhà nước (trên 50%) cũng được gọi DNNN. Tỷ lệ này là hợp lý để nhà nước đảm bảo được quyền hạn chi phối nhất định của mình trong quản lý, điều hành DNNN; đảm bảo các DNNN vận hành và hoạt động theo đúng đường lối, chủ trương, kế hoạch của nhà nước; thực hiện được những nhiệm vụ, trách nhiệm mà nhà nước giao cho trong việc thúc đẩy nền kinh tế xã hội phát triển. Các công ty mà nhà nước nắm giữ dưới 50% vốn góp được gọi là doanh nghiệp có vốn góp nhà nước chứ không phải DNNN.
- Thứ hai, về quyền quyết định hoặc quyền chi phối: Tương ứng với tỷ lệ vốn góp của nhà nước trong doanh nghiệp là quyền quyết định hoặc quyền chi phối của nhà nước đối với doanh nghiệp đó. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Trong trường hợp nhà nước nằm giữ 100% vốn góp, nhà nước sẽ có toàn quyền quyết định những vấn đề lớn của doanh nghiệp như: kế hoạch sản xuất kinh doanh, chính sách phát triển, điều lệ, quy chế hoạt động, nhân sự, chia tách, sát nhập…. Quyền hạn này sẽ được nhà nước thực hiện thông qua các cơ quan, tổ chức đại diện cho chủ sở hữu nhà nước như các Bộ quản lý ngành, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Hội đồng thành viên tại doanh nghiệp,…. + Nhà nước có quyền chi phối khi nhà nước có cổ phần, vốn góp trên 50%.
Phạm vi quyền hạn của nhà nước sẽ được thể hiện cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật (dành cho cổ đông có vốn góp chi phối), trong Điều lệ tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp. Đây là một tỷ lệ phù hợp để nhà nước thể hiện được ý chí của mình trong những quyết định quan trọng của doanh nghiệp. Nhà nước thực hiện quyền chi phối này của mình thông qua việc cử người tham gia vào ban lãnh đạo của doanh nghiệp, giữ những vị trí chủ chốt trong Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc/ Giám đốc doanh nghiệp. - Thứ ba, về hình thức pháp lý Theo quy định, tất cả các DNNN trước đây sẽ phải chuyển sang mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp 2005.
Quy định này nhằm tạo sự bình đẳng, sự đồng nhất về mô hình tổ chức giữa DNNN và các loại hình doanh nghiệp khác. Theo đó, các doanh nghiệp có vốn góp 100% của nhà nước được chuyển đổi sang hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do nhà nước làm chủ sở hữu; còn doanh nghiệp có vốn góp chi phối của nhà nước thì được thành lập dưới hình thức công ty TNHH hai thành viên trở lên hoặc công ty cổ phần. Ngoài ra, hiện nay còn một hình thức nữa đó là Tập đoàn kinh tế. Đây là một tập hợp nhiều công ty hay doanh nghiệp, trong đó có một công ty đầu đàn gọi là công ty mẹ, các công ty khác trong tập đoàn thì có vai trò là công ty con hay công ty liên kết.
11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Thứ tư, về tư cách pháp lý và trách nhiệm tài sản Doanh nghiệp nhà nước dưới hình thức công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn đều có tư cách pháp nhân: được thành lập hợp pháp, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, có tài sản độc lập và chịu trách nhiệm bằng tài sản đó (nhà nước chịu trách nhiệm trong phạm vi vốn góp của nhà nước) , nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập. Riêng mô hình Tập đoàn kinh tế lại không có tư cách pháp nhân. Điều 38 Nghị định 102/2010/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp cũng đã quy định rõ: “Tập đoàn kinh tế không có tư cách pháp nhân, không phải đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật doanh nghiệp. Việc tổ chức hoạt động của Tập đoàn do các công ty thành lập tập đoàn tự thoả thuận quyết định”.
Vai trò của DNNN Trong nền kinh tế kế hoạch hoá trước đây, toàn bộ các DNNN đều giữ vai trò là lực lượng kinh tế chủ yếu của nền kinh tế, chi phối toàn bộ các ngành nghề. Đến cuối thập niên 80 của Thế kỷ 20, Việt Nam tiến hành cải cách, đổi mới nền kinh tế theo hướng kinh tế thị trường nhưng vẫn nhấn mạnh sự kiểm soát hay điều tiết mạnh mẽ của nhà nước thông qua DNNN. Hiến pháp 1992 ra đời, mặc dù công nhận nền kinh tế thị trường với đa phần sở hữu, tuy nhiên vẫn nhấn mạnh nguyên lý kinh tế nhà nước hay DNNN đóng “vai trò chủ đạo” (Điều 19 Hiến pháp Việt Nam 1992). Có thể thấy rằng bản thân khái niệm “vai trò chủ đạo” chưa thể hiện được ý nghĩa rõ ràng và còn gây tranh cãi, xét trong bối cảnh nền kinh tế thị trường khi các doanh nghiệp là các chủ thể độc lập, tự do kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về các hoạt động của mình.
Tuy nhiên, bởi Hiến pháp trước hết là một văn kiện chính trị trọng yếu và công cụ pháp lý chủ chốt của Đảng cộng sản Việt Nam, do đó, việc tuyên bố về vai trò quan trọng nói trên của DNNN đương nhiên có hàm ý thực tế về mặt nội dung.