Chương 1, Luật Đấu thầu năm 2013 quy định: Vốn nhà nước bao gồm vốn ngân sách nhà nước; công trái quốc gia, trái phiếu Chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương; vốn hỗ trợ phát triển chính thức, vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ; vốn từ quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp; vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước; vốn tín dụng do Chính phủ bảo lãnh; vốn vay được bảo đảm bằng tài sản của Nhà nước; vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước; giá trị quyền sử dụng đất (Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2013). Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Tại Điều 2, Khoản 2, Nghị quyết số 49/2010/QH12 của Quốc hội quy định: "Vốn nhà nước bao gồm vốn ngân sách nhà nước; vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước; vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước và vốn khác do Nhà nước quản lý" (Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2010). Theo Khoản 8, Điều 3, Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp: Vốn nhà nước tại doanh nghiệp bao gồm vốn từ ngân sách nhà nước, vốn tiếp nhận có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước; vốn từ quỹ đầu tư phát triển tại doanh nghiệp, quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp; vốn tín dụng do Chính phủ bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và vốn khác được Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp(Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2014). Theo quy định hiện hành, vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp bao gồm: Vốn bằng tiền: Nhà nước đầu tư vốn để thành lập nên một doanh nghiệp mới hoặc đầu tư bổ sung.
Đây là khoản đầu tư được lấy trực tiếp từ ngân sách. Trong trường hợp doanh nghiệp có vốn đầu tư của Nhà nước kinh doanh có lợi nhuận, chia lợi nhuận cho chủ sở hữu là Nhà nước theo tỷ lệ vốn góp, Nhà nước dùng số lợi nhuận để đầu tư tại doanh nghiệp hoặc rút ra để đem đầu tư nơi khác. Giá trị quyền sử dụng đất, giá trị những tài sản khác của công ty nhà nước được công ty nhà nước đầu tư hoặc góp vốn vào công ty cổ phần; lợi tức các khoản được chia khác do công ty nhà nước đầu tư góp vốn vào doanh nghiệp dùng để tái đầu tư các doanh nghiệp này. Giá trị cổ phần chủ sở hữu Nhà nước tại các công ty nhà nước đã cổ phần hóa.
Giá trị các khoản viện trợ, tài sản vô chủ, tài sản dôi thừa khi kiểm kê công ty nhà nước và được hạch toán tăng vốn nhà nước tại công ty nhà nước. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, thường hình thành các khu vực hỗn hợp sở hữu do các chủ thể khác nhau cùng góp vốn thành lập doanh nghiệp. Do vậy, cần chú ý rằng, vốn nhà nước sử dụng trong kinh doanh ngoài việc đầu tư vào các DNNN còn có thể góp vốn cùng đầu tư và kinh doanh với các chủ thể ngoài nhà nước. Như vậy, các doanh nghiệp có vốn nhà nước đầu tư có 2 loại: Các doanh Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 nghiệp được Nhà nước đầu tư vào được gọi là doanh nghiệp có vốn đầu tư nhà nước và DNNN có 100% vốn điều lệ nhà nước.
Về nguồn vốn tạo nên vốn nhà nước tại các DNNN, thông thường nhất, vốn của DNNN có thể được lấy từ nguồn ngân sách nhà nước (NSNN) cấp phát. Cóthể nguồn vốn được hình thành từ nguồn tín dụng (tài chính) nhà nước. Vốn cũng có thể hình thành từ tài sản, đất đai sở hữu nhà nước được vốn hóa trong quá trình hình thành doanh nghiệp. Vốn của DNNN cũng có thể được chính các DNNN phát triển và trích lập từ lợi nhuận hoặc giá trị tăng thêm qua các lần định giá vốn định kỳ.
Sự phức tạp về nguồn vốn của DNNN dẫn đến sự khó khăn trong quản lý vốn ở các doanh nghiệp này. Như vậy, có thể hiểu, vốn nhà nước tại các DNNN là vốn được đầu tư, cấp phát hoặc phát triển từ ngân sách nhà nước, vốn tiếp nhận từ các nguồn có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước, vốn phát triển từ quỹ đầu tư phát triển tại doanh nghiệp, quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp, vốn tín dụng vay của các tổ chức tài chính do Chính phủ bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước. Vốn nhà nước là vốn thuộc sở hữu Nhà nước đầu tư vào các DNNN không chỉ để tiến hành sản xuất kinh doanh mang lại lợi nhuận mà còn để đạt được các lợi ích khác cho cộng đồng cũng như đảm bảo thực hiện vai trò và các chức năng của Nhà nước trong nền kinh tế. Đặc điểm vốn Nhà nước tại doanh nghiệp Vốn nhà nước tại doanh nghiệp có những đặc điểm chung của vốn kinh doanh và có những đặc điểm riêng của vốn thuộc sở hữu Nhà nước.
Những đặc điểm chung của vốn kinh doanh là vốn là một hàng hóa đặc biệt; vốn phải đại diện cho một lượng tài sản thực, vốn được biểu hiện bằng tiền dùng vào đầu tư kinh doanh với mục đích sinh lời; vốn luôn gắn liền với chủ sở hữu nhất định. Chủ sở hữu vốn trong doanh nghiệp là những người đầu tư vốn để hình thành hoặc phát triển mở rộng doanh nghiệp. Sự khác biệt giữa vốn Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp với vốn đầu tư của các chủ sở hữu khác chính là đặc điểm sở hữu Nhà nước của vốn. So với các chủ thể sở hữu khác, chủ thể sở hữu Nhà nước có những đặc điểm khác biệt.
Vốn nhà nước được đầu tư vào những doanh nghiệp mà Nhà Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 nước nắm giữ không quá 50% vốn điều lệ hoặc trên 50% vốn điều lệ được gọi là những công ty có phần vốn góp nhà nước. Người đại diện vốn nhà nước tại doanh nghiệp là cá nhân được chủ sở hữu ủy quyền bằng văn bản để thực hiện quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ sở hữu tại doanh nghiệp. Đặc điểm vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước Một là, vốn nhà nước tại các DNNN là vốn thuộc sở hữu nhà nước (sở hữu toàn dân), do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu. Theo quy định hiện hành, người đại diện chủ sở hữu trực tiếp tại DNNN do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ là cá nhân được cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm vào Hội đồng thành viên để thực hiện quyền, trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu Nhà nước tại doanh nghiệp.
Hai là, vốn nhà nước trong các DNNN cũng như vốn của các doanh nghiệp nói chung, được thể hiện bằng hình thức giá trị các tài sản hữu hình và giá trị vô hình như quỹ tiền mặt, tài sản tài chính, nhà cửa, vật kiến trúc, phương tiện sản xuất, quyền sử dụng đất, bản quyền, bằng phát minh, sáng chế, nhãn hiệu hàng hóa, giá trị thương hiệu. Sự đa dạng của hình thức thể hiện của vốn nhà nước đòi hỏi phải xác định giá trị vốn chính xác nhưng cũng rất khó khăn về nghiệp vụ. Ba là, vốn nhà nước trong các DNNN vừa là vốn mang tính kinh doanh với mục đích lợi nhuận, vừa mang mục đích lợi ích công cộng. Đặc điểm này đòi hỏi các cơ quan chủ quản và quản lý vốn phải xác định rõ loại hình DNNN có mục tiêu về sử dụng vốn phục vụ mục tiêu kinh doanh hay mục tiêu phát triển hàng hóa công cộng.
Tùy từng loại hình doanh nghiệp mà chủ sở hữu nhà nước và bản thân DN có cơ chế đánh giá và khuyến khích về sử dụng vốn khác nhau. Xuất phát từ đặc điểm này mà Nhà nước đầu tư vốn không chỉ nhằm mục tiêu kinh tế mà còn các mục tiêu khác như chính trị, xã hội, văn hóa, cho nên tính mục tiêu trong đầu tư, sử dụng vốn, tài sản của chủ sở hữu nhà nước thường khó phân định rõ ràng; phức tạp trong mục tiêu giữa chủ sở hữu nhà nước trung ương, chủ sở hữu nhà nước địa phương; giữa chức năng của Nhà nước là quản lý hành chính và chức năng là chủ sở hữu. Sự phức tạp này đòi hỏi phải có những giải pháp cụ thể để đảm bảo chủ sở hữu nhà nước thực hiện tốt các mục tiêu và chức năng có hiệu quả. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Bốn là, vốn nhà nước trong các DNNN ở Việt Nam là do Nhà nước làm chủ sở hữu.
Do vậy thường có tâm lý chủ quan, thiếu trách nhiệm công vụ và trách nhiệm tài chính trong quản lý vốn, thậm chí buông lỏng trong việc quản lý vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, dễ bị lợi dụng trục lợi cá nhân hoặc theo nhóm lợi ích. Đặc điểm này cho thấy sự cần thiết phải xác định rõ chủ sở hữu đích thực đủ quyền năng và trách nhiệm đối với vốn nhà nước trong các DNNN. Trong bất cứ DNNN nào và ở bất cứ thời điểm nào đối với vốn nhà nước phải luôn luôn xác định rõ chủ sở hữu. Hơn nữa, cần có chế độ trách nhiệm rõ ràng trong quản lý vốn của chủ sở hữu.
Năm là, ở Việt Nam, nền kinh tế được xác định là kinh tế thị trường định hướng XHCN. Trong mô hình đó, kinh tế nhà nước được xác định như là một công cụ nhà nước sử dụng để điều tiết nền kinh tế. Là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế, tạo môi trường và điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế khác phát triển. DNNN là bộ phận quan trọng của kinh tế nhà nước.
Do vậy, DNNN phải đủ vốn để là nơi tạo lập lực lượng sản xuất cho những ngành quan trọng cần chủ đạo mà tư nhân chưa có điều kiện làm hoặc không muốn làm. Ngoài ra, DNNN ở Việt Nam còn tham gia vào một số ngành có lợi thế cạnh tranh, có khả năng thu ngân sách nhà nước lớn. DNNN còn là công cụ trực tiếp mà Nhà nước sử dụng để khắc phục những hạn chế, khuyết tật của cơ chế thị trường và khu vực tư nhân.