MỞ ĐẦU Cứu là một trong những phương pháp điều trị cốt lõi của Y học cổ truyền (YHCT) có lịch sử hơn 2500 năm với đặc tính không chỉ trị bệnh mà còn giúp dưỡng sinh, phòng ngừa bệnh tật 1. Sách Hoàng Đế Nội kinh – Linh khu có đoạn viết:”Châm sở bất vi, cứu chi sở nghi” (châm không được thì nên dùng cứu) 2. Trong các hình thức cứu thì cứu ấm bằng điếu ngải thường được sử dụng trên lâm sàng và nghiên cứu khoa học 1,3-5. Theo YHCT, cứu có thể khai mở tác dụng của huyệt, khai kinh khí, điều hòa khí cơ tạng phủ, thư cân, hóa ứ, thông lạc, khu phong, tán hàn tà, trừ thấp trệ và được chỉ định trong các bệnh lý thuộc thể hàn và ứ trệ theo YHCT 1,6,7.
Theo ghi nhận của y văn và các áo cáo tổng quan, tác dụng của cứu chủ yếu được thể hiện trên ba mặt: giảm đau, điều hòa miễn dịch và chống lão hóa, qua đó được đẩy mạnh trong nghiên cứu và sử dụng rộng rãi trên lâm sàng với ưu điểm tiện lợi, hiệu quả, an toàn và chi phí thấp, đặc biệt trong các trường hợp lệch ngôi thai, thống kinh, viêm ruột, điều hòa miễn dịch, đột quỵ và các chứng đau nói chung 1,7,8. Các nghiên cứu thực nghiệm cũng đã chứng minh được tác dụng trị liệu của cứu chủ yếu thông qua a cơ chế chính: tác dụng nhiệt, tác dụng bức xạ và tác dụng dược lý của sản phẩm đốt cháy; trong đó tác dụng nhiệt là tác dụng chính yếu nhất của cứu 1,5,9-12. Nhìn chung, thông qua việc tăng nhiệt độ, cứu làm tăng sinh mô collagen và giãn mạch, tăng lưu lượng máu từ đó thúc đẩy sửa chữa các mô tổn thương, tăng dinh dưỡng và kháng viêm7. Do đó cứu được ứng dụng nhiều trong các bệnh lý cơ xương khớp nói chung, trong đó có thoái hóa khớp gối.
Thoái hóa khớp gối là một trong những bệnh lý cơ xương khớp phổ biến trên toàn cầu, đặc biệt ở đối tượng người cao tuổi và nữ giới. Với sự gia tăng tuổi thọ trung bình và tỷ lệ người béo phì, tỷ lệ mắc thoái hóa khớp gối đang ngày một gia tăng. Hiện nay, thoái hóa khớp gối nổi lên như một vấn đề sức khỏe ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình trạng mất sức lao động và gia tăng chi phí chăm sóc y tế; đứng thứ 11 trong số các nguyên nhân gây tàn tật trên toàn cầu 13-15. Các phương pháp điều trị đầu tay đối với bệnh lý này hiện nay bao gồm thuốc acetaminophen,.
2 kháng viêm non-steroid (NSAIDs) và tiêm nội khớp đều chứng tỏ hiệu quả giúp kiểm soát cơn đau ngắn hạn. Tuy nhiên, việc điều trị lâu dài các thuốc kể trên đã gây ra nguy cơ đáng kể về tim mạch, gan, thận và tiêu hóa; đặc biệt là đối tượng người cao tuổi 13,15,16. Do đó, xu hướng sử dụng các liệu pháp không dùng thuốc ngày càng được chú trọng, trong đó có phương pháp cứu của YHCT 8,13,14. Với tác dụng được chứng minh thông qua cơ chế điều hòa con đường tín hiệu NF-κB, ức chế men COX-2 và ức chế các yếu tố trung gian gây viêm, cứu được chứng minh là một trong các phương pháp YHCT có hiệu quả trong điều trị thoái hóa khớp gối 8.
Không chỉ thoái hóa khớp mà phương pháp cứu khi dùng đơn độc hoặc kết hợp với phương pháp châm còn cho thấy có bằng chứng trong việc cải thiện lâm sàng đối đối với người bệnh mắc hội chứng đau xơ cơ vùng gối hiệu quả hơn so với amitriptylline, ngoài ra các bệnh lý về khớp gối khác như viêm khớp mạn vùng gối đều có thể có tiềm năng được điều trị tốt với phương pháp này thông qua cơ chế tăng nhiệt độ 17,18. Ngoài tác động vào các huyệt tại chỗ, việc lựa chọn các huyệt ở xa là phương pháp chọn huyệt đang được ứng dụng rộng rãi trong thực hành lâm sàng và ngày càng được đẩy mạnh trong nghiên cứu khoa học mà trong đó Mệnh môn là huyệt có liên hệ mật thiết với vùng gối theo lý luận YHCT 19-21. Theo lý thuyết về hệ kinh lạc, Mệnh môn là huyệt thuộc mạch Đốc – một trong các mạch ngoài kinh, có chức năng lý khí, ôn dương, trừ hàn – thấp – trệ, chức năng này tương đồng với phạm vi chỉ định của cứu 1,3,22,23. Từ huyệt Mệnh môn có thể thông vào đến Mệnh môn hỏa, từ đó giúp thúc đẩy khí cơ toàn thân vận hành.
Mệnh môn lại là nơi xuất phát của ba mạch Xung, Nhâm, Đốc. Trong đó mạch Xung có nhánh xuống gối và có sự tương quan nhất định với vùng này 19,23. Bên cạnh đó, hiện nay các nghiên cứu khảo sát về tác dụng đặc hiệu thông qua cơ chế tăng nhiệt độ da chủ yếu nhấn mạnh đến nhóm Lục tổng huyệt, các nghiên cứu liên quan đến các huyệt đặc hiệu theo đường đi của các mạch ngoài kinh còn khá hạn chế 24-28. Xuất phát từ vấn đề nêu trên, nghiên cứu này khảo sát mối liên quan của huyệt Mệnh môn với vùng gối dựa trên lý thuyết đã được nêu thông qua phương pháp cứu, bằng phương pháp ghi hình ảnh nhiệt với máy ảnh nhiệt hồng ngoại.
Từ đó làm nền tảng cho những nghiên cứu huyệt Mệnh môn trên các bệnh lý về khớp gối sau này. 3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU: Với phương pháp cứu ấm huyệt Mệnh môn bằng điếu ngải thì nhiệt độ bề mặt da tại chỗ và vùng gối thay đổi như thế nào và có ghi nhận tác dụng không mong muốn nào hay không? MỤC TIÊU TỔNG QUÁT: Khảo sát sự thay đổi nhiệt độ da vùng gối hai bên khi cứu ấm huyệt Mệnh môn bằng điếu ngải cứu MỤC TIÊU CỤ THỂ 1. Khảo sát sự thay đổi nhiệt độ da tại chỗ khi cứu ấm huyệt Mệnh môn bằng điếu ngải cứu. Khảo sát sự thay đổi nhiệt độ da vùng gối hai bên khi cứu ấm huyệt Mệnh môn bằng điếu ngải cứu.
Đánh giá tác dụng không mong muốn khi cứu ấm tại huyệt Mệnh môn. Phƣơng pháp cứu 1. Giới thiệu và phân loại các phƣơng pháp cứu Cứu là một trong những phương pháp được sử dụng rộng rãi nhất trong YHCT, với đặc trưng giúp kích thích huyệt vị, khai kinh khí, thông kinh lạc, ôn dương, trừ hàn thấp 3,29. Định nghĩa cứu Cứu là dùng sức nóng tác động kích thích lên huyệt tạo nên phản ứng của cơ thể để phòng và điều trị bệnh.
Thường dùng là ngải cứu khô chế thành ngải nhung rồi làm mồi ngải hay điếu ngải để cứu. Các hình thức cứu Bao gồm cứu bằng mồi ngải, cứu bằng điếu ngải và cứu trên đốc kim3. Chỉ định và chống chỉ định - Chỉ định: Bệnh lý có nguyên nhân do hàn (theo Y học cổ truyền), có thể là thực hàn hoặc hư hàn3,30. - Chống chỉ định: Các trường hợp bệnh lý có nguyên nhân thực nhiệt hoặc hư nhiệt (có sốt cao.
),không nên cứu ở các vùng có nhiều gân, da sát xương, vùng mặt. vì có thể gây bỏng, đặc biệt là những vùng bị mất cảm giác3. Kỹ thuật cứu ấm bằng điếu ngải Đốt đầu điếu ngải, hơ trên huyệt. Khi người bệnh thấy nóng thì cách xa dần ra, đến mức nào người bệnh thấy nóng ấm và dễ chịu thì giữ nguyên khoảng cách đó cho đến khi vùng da được cứu hồng lên là được (thường khoảng 1 – 3 phút mỗi huyệt và khoảng 10 – 15 phút cho một vùng bệnh).
Khi cứu nên dùng ngón tay út của tay cầm đặt lên da làm điểm tựa để cố định khoảng cách đầu điếu ngải với da và đỡ mỏi tay. Cách cứu này dùng cho mọi chỉ định của cứu 29. 5 Theo nhiều nghiên cứu được công bố trên thế giới và tại Việt Nam, cứu ấm bằng điếu ngải đạt hiệu quả tối ưu và tính an toàn cao khi khoảng cách cứu là 3 cm từ đầu điếu ngải đến bề mặt da, kết hợp với quy trình gạt tàn tro ngải cứu và điều chỉnh lại khoảng cách cứu mỗi 3 phút 5,7,12,31. Tác dụng không mong muốn Theo một báo cáo tổng quan về tính an toàn của phương pháp cứu, tác giả Ji Xu và cộng sự đã cho thấy hầu hết các tác dụng không mong muốn xảy ra với tần suất thấp, chủ yếu do lỗi kĩ thuật của nhân viên y tế và đều hồi phục tốt sau khi xử trí kịp thời.
Các tác dụng không mong muốn thường gặp nhất là bỏng, dị ứng và viêm mô tế bào 32. Bỏng: tổn thương ỏng trong cứu thường nhẹ (độ I hay độ II). Biểu hiện: đối tượng cảm thấy nóng rát sau khi cứu, trên mặt da vùng huyệt được cứu xuất hiện óng nước. Xử trí: dùng thuốc mỡ và dán ăng tránh nhiễm trùng 29.
Phòng ngừa: không cứu nhiều huyệt và trên nhiều người bệnh một lúc. Một số lưu ý khác: thận trọng cứu với vùng mặt vì lý do thẩm mỹ (có thể gây sẹo do bỏng), huyệt gần mắt, vùng dễ để lại sẹo do vùng da thường xuyên co kéo như khoeo chân, khuỷu tay. Tác dụng của cứu ấm theo YHCT Sách Hoàng Đế Nội Kinh – Linh khu, thiên Quan Năng có đoạn viết: “Châm sở bất vi, cứu chi sở nghi”, nghĩa là châm kim không lui bệnh thì nên dùng cứu. Theo học thuyết YHCT thì cứu có cả tác dụng về bổ và tả.
Đặc trưng của cứu có cả tác dụng về dược tính của dược liệu ngải cứu và tác dụng về nhiệt để ôn ấm và tư dưỡng. Do đó cứu thường dùng trong các chứng hư hàn1. Vai trò của cứu có thể chia thành ôn dưỡng, ôn thông và ôn tán. Ôn dưỡng liên quan đến lợi ích của ôn dương, ổ khí, dưỡng huyết và bổ được tình trạng hư yếu; ôn thông liên quan đến chức năng hoạt huyết, tán ứ, lý khí, thông kinh, chỉ thống; ôn tán liên quan đến vai trò của việc trừ đờm, tiêu trệ, khu phong, trừ thấp, bài độc33.
6 Theo học thuyết YHCT, hiệu quả của cứu dựa trên hai yếu tố chính: hệ thống kinh lạc và vai trò của ngải cứu và hỏa. Hệ thống kinh lạc Cứu có liên hệ mật thiết với kinh lạc, bì bộ và huyệt. Hệ thống kinh lạc bao gồm các đường kinh mạch và lạc mạch; là những con đường liên lạc giữa ên trong cơ thể với môi trường bên ngoài, kết nối tạng phủ, vận hành khí huyết và điều hòa cơ thể. Theo Hoàng Đế Nội Kinh, Linh khu – thiên Hải luận, có 12 đường kinh chính, các nhánh chìm chạy vào tạng phủ, các nhánh nổi đi ở ngoài đến tứ chi.
YHCT cho rằng cơ thể con người là một thể thống nhất. Tạng phủ và tứ chi tương tác với nhau thông qua hệ thống kinh mạch nên chúng đóng vai trò quan trọng trong các chức năng sinh lý và quá trình ệnh lý.