Chương 1: Giới thiệu luận văn. - Chương 2: Tổng quan lý thuyết về tác động viện trợ nước ngoài đến tổng thu thuế. - Chương 3: Thực trạng về tổng thu thuế và viện trợ nước ngoài tại các nước Đông Nam Á. - Chương 4: Phương pháp và kết quả nghiên cứu tác động của viện trợ nước ngoài đến tổng thu thuế tại các nước Đông Nam Á.
- Chương 5: Kết luận và khuyến nghị. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn - Về mặt lý luận: Luận văn góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về viện trợ nước ngoài và tác động của nó đến tổng thu thuế của các nước đang phát triển. Dựa trên cơ sở lý thuyếtvà các nghiên cứu thực nghiệm trước, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu tác động của viện trợ nước ngoài đến tổng thu thuế phù hợp với tình hình thực tế tại các nước Đông Nam Á. - Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tác động của viện trợ nước ngoài đến tổng thu thuế của các nước Đông Nam Á để từ đó các nhà quản lý có các chính sách thu hút và sử dụng nguồn viện trợ nước ngoài phù hợp, góp phần hỗ trợ cho việc cải cách thuế để nâng cao tổng thu thuế tại các nước Đông Nam Á trong thời gian tới.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆN TRỢ NƯỚC NGOÀI ĐẾN TỔNG THU THUẾ 2. Tổng quan lý thuyết về viện trợ nước ngoài 2. Khái niệm viện trợ nước ngoài Viện trợ nước ngoài là các khoản ưu đãi tài chính, hàng hóa và dịch vụ được tài trợ dành cho các nước đang phát triển nhằm thúc đẩy phát triển ở các quốc gia này, thường được thực hiện dưới hình thức hỗ trợ tài chính hoặc hỗ trợ kỹ thuật. Uỷ ban Hỗ trợ phát triển (Development Assistance Committee – DAC) thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đưa ra một định nghĩa chính xác hơn được sử dụng bởi câu lạc bộ các nhà tài trợ.
Theo đó, các khoản tài chính quốc tế hội tụ đủ các điều kiện sau có thể được xem là một khoản viện trợ: - Đến từ các nguồn chính thức, không bao gồm các quỹ được huy động bởi các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức tình nguyện tư nhân, ngoại trừ những khoản viện trợ từ các nguồn chính thức nhưng được giải ngân thông qua các tổ chức phi chính phủ; - Được dành cho mục đích phát triển, vì vậy viện trợ không bao gồm viện trợ quân sự và các nguồn tài trợ phục vụ mục đích thương mại, ví dụ như tín dụng xuất khẩu; - Có mức độ ưu đãi cao (viện trợ không hoàn lại chiếm ít nhất 25% khoản viện trợ); - Được giành cho một quốc gia thuộc Phần I trên “Danh sách các nước nhận viện trợ” của DAC, trong đó bao gồm tất cả các nước thu nhập thấp và trung bình trên thế giới. Phân loại viện trợ nước ngoài Căn cứ vào những điều kiện trên, DAC chia các dòng viện trợ thành ba loại chính cụ thể như sau: - Viện trợ phát triển chính thức (Official Development Assistance - ODA) là lớn nhất, bao gồm viện trợ của chính phủ các nước tài trợ (vì thế được gọi là chính thức) dành cho các nước thu nhập thấp và trung bình. - Viện trợ chính thức (Official Assistance, OA) là viện trợ cung ứng bởi chính phủ các nước tài trợ dành cho những quốc gia giàu hơn với thu nhập trên đầu người cao TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 hơn khoảng 9000 USD (bao gồm Bahamas, Cyprus, Israel, và Singapore) và những nước trước đây thuộc Liên bang Xô viết hay các quốc gia vệ tinh của Liên bang Xô viết (như Hungary, Ba Lan, Romania, và nước Nga). - Viện trợ tự nguyện tư nhân (Private voluntary assistance) bao gồm trợ cấp từ các tổ chức phi chính phủ, các nhóm tôn giáo, các tổ chức từ thiện, các quỹ, và các công ty tư nhân.
Vai trò của viện trợ nước ngoài Viện trợ nước ngoài bao gồm mối quan hệ giữa hai bên là chủ thể viện trợ và chủ thể nhận viện trợ. Mặc dù quốc gia là chủ thể phổ biến và quan trọng nhất trong các mối quan hệ viện trợ nước ngoài, song các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cũng đóng vai trò nhất định. o Đối với chủ thể viện trợ: Viện trợ nước ngoài được xem là một công cụ chính sách mà chủ thể viện trợ thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu nhất định. Do vậy, dù chủ thể viện trợ là quốc gia hay tổ chức quốc tế thì tính chất chính trị trong các mối quan hệ viện trợ vẫn tồn tại.
Tính chất chính trị này có thể được nhận thấy ở các điều kiện đi kèm mà chủ thể viện trợ đặt ra cho chủ thể nhận viện trợ. Ví dụ như IMF có thể yêu cầu nước nhận viện trợ thực hiện một số chính sách kinh tế nhất định để đổi lại các khoản viện trợ. Ngoài ra trong nhiều trường hợp, viện trợ còn được thực hiện nhằm phục vụ những lợi ích kinh tế của chủ thể viện trợ. Trong các khoản viện trợ ràng buộc, một số nước chỉ chấp nhận cung cấp viện trợ với điều kiện nước nhận viện trợ phải mua các hàng hóa nhập khẩu từ nước viện trợ.
Hình thức viện trợ ràng buộc này còn được gọi là “viện trợ giảm giá trị” (devalued aid) vì nước nhận viện trợ phải nhập khẩu các hàng hóa này với giá cao hơn và chất lượng thấp hơn so với các hàng hóa cùng chủng loại có trên thị trường thế giới. Nhiều nước viện trợ khi gặp khó khăn về cán cân thanh toán chỉ chấp nhận cung cấp viện trợ dưới hình thức này. o Đối với chủ thể nhận viện trợ: - Viện trợ tài chính ở các nước đang phát triển có cơ chế quản lý tốt sẽ giúp tăng trưởng nhanh hơn, giảm tình trạng nghèo đói và đạt được các chỉ tiêu xã hội. Trên thực TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 tế, một số nước nhận nhiều viện trợ mà thu nhập giảm trong khi một số nước nhận ít viện trợ mà thu nhập lại tăng.
Nhưng nếu chỉ xét đến sự phân biệt giữa các nước có cơ chế quản lý tốt và cơ chế quản lý tồi thì đối với các nước có cơ chế quản lý tồi, dù số tiền viện trợ là bao nhiêu thì tăng trưởng vẫn thấp, thậm chí còn âm. Đối với các nước có cơ chế quản lý tốt, khi viện trợ tăng lên 1% GDP thì tốc độ tăng trưởng tăng lên 0,5%. Ngoài ra, viện trợ còn góp phần làm giảm đói nghèo. Theo các chuyên gia về ODA, bình quân ở các nước đang phát triển, thu nhập đầu người tăng 1% đã dẫn đến tỷ lệ đói nghèo giảm xuống 2%.
Nói cách khác, ở các nước có cơ chế quản lý tốt, khi viện trợ tăng lên 1% GDP thực tế thì sẽ giảm 1% tỷ lệ đói nghèo.Viện trợ có tác động đến tăng trưởng, từ đó dẫn đến nâng cao mức sống. Tăng trưởng không loại bỏ đói nghèo nhưng rõ ràng tăng trưởng có tác động lớn đến cải thiện các chỉ tiêu xã hội. - Viện trợ thúc đẩy đầu tư: Các nước đang phát triển là những nước rất cần vốn cho đầu tư phát triển, và viện trợ chính là một hình thức bổ sung cho nguồn vốn trong nước. Vốn đầu tư có thể thu hút từ các nguồn ODA, FDI hoặc nguồn vốn tích lũy từ nội bộ nền kinh tế.
Trong điều kiện nguồn vốn trong nước còn hạn hẹp thì nguồn vốn nước ngoài có tầm quan trọng đặc biệt. Nguồn vốn ODA thường được các nước đang phát triển đầu tư cải thiện cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, xây dựng đường giao thông, phát triển năng lượng. vì đây là những ngành cần phải đầu tư lớn, thu hồi vốn chậm nên tư nhân không có khả năng đầu tư.Viện trợ còn thúc đẩy thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI và phát triển nguồn nhân lực. Nhờ có viện trợ mà nước nhận tài trợ với cơ chế quản lý tốt sẽ tạo ra được cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội vững chắc, giao thông thuận tiện, hệ thống pháp luật ổn định, viện trợ là sự chuẩn bị cho vốn đầu tư trực tiếp được thu hút vào là điều kiện cho FDI được sử dụng một cách hiệu quả.
Mặt khác, viện trợ còn giúp những nước đang phát triển tiếp thu những thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại, trình độ quản lý tiên tiến, kỹ năng chuyên môn cao. Đây chính là lợi ích căn bản, lâu dài của quốc gia nhận tài trợ. - Viện trợ giúp các nước đang phát triển cải thiện thể chế và chính sách kinh tế. Cải thiện thể chế và chính sách kinh tế ở những nước đang phát triển là chìa khoá để tạo bước nhảy vọt về lượng trong thúc đẩy tăng trưởng, tức là góp phần làm giảm đói TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Mặt khác, viện trợ có thể nuôi dưỡng cải cách. Khi các nước mong muốn cải cách thì viện trợ nước ngoài có thể đóng góp những nỗ lực cần thiết như hỗ trợ thử ngiệm cải cách, trình diễn thí điểm, tạo đà và phổ biến các bài học kinh nghiệm. Những nước mà ở đó chính phủ thực hiện những chính sách vững chắc phân bổ hợp lý các khoản chi tiêu và cung cấp dịch vụ có hiệu quả cao thì hiệu quả chung của viện trợ là lớn. Ngược lại, ở những nước mà chính phủ và nhà tài trợ không đồng nhất quan điểm trong việc chi tiêu, hiệu quả lại thấp thì các nhà tài trợ cho rằng cách tốt nhất là giảm viện trợ và tăng cường hỗ trợ cho việc hoạch định chính sách và xây dựng thể chế cho đến khi các nhà tài trợ thấy rằng viện trợ của họ sẽ đóng góp cho sự phát triển.
Qua đây ta cũng nhận thấy rằng giá trị thực của các dự án là ở chỗ thể chế và chính sách được củng cố, cải thiện việc cung cấp dịch vụ xã hội. Việc tạo ra được kiến thức với sự trợ giúp của viện trợ sẽ dẫn tới sự cải thiện trong một số ngành cụ thể trong khi một phần tài chính của viện trợ sẽ mở rộng các dịch vụ công cộng nói chung. Tóm lại, viện trợ đã và đang có hiệu quả. Tuy nhiên, nguồn viện trợ nước ngoài chỉ phát huy hết vai trò của nó khi có một cơ chế quản lý tốt, một thể chế lành mạnh và một môi trường chính trị hoàn thiện.
Nếu không chẳng những viện trợ nước ngoài không phát huy vai trò của nó mà còn đem lại gánh nặng nợ nần cho đất nước.