MỞ ĐẦU Việt Nam đã và đang thực hiện chiến lược phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trong quá trình công nghiệp hóa đất nước thì xuất khẩu sẽ là một trong những động lực để giúp Việt Nam phát triển kinh tế - xã hội. Trong những năm qua, xuất khẩu của Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể. Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tăng trưởng xuất khẩu khá cao trong năm 2007 và 2008, tương ứng là 21,9%, và 29,1%. Sau khi giảm 8,9% vào năm 2009 do tác động của khủng hoảng tài chính thế giới, xuất khẩu tăng trở lại ở mức 25,5% năm 2010 và 34,2% năm 2011.
Trong cả giai đoạn 2007-2011, xuất khẩu đã tăng 2,4 lần, từ 39,8 tỷ USD lên 96,9 tỷ USD. Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu bình quân đạt 19,5%/năm, cao hơn chỉ tiêu 16%/năm trong kế hoạch 5 năm 2006-2010. Năm 2012, mặc dù tình hình kinh tế thế giới và trong nước có rất nhiều khó khăn, kim ngạch xuất khẩu/GDP đạt khoảng 81,7%, cao hơn mức kỷ lục 80,8% của năm 2011. Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu cao hơn tốc độ tăng GDP (lên đến 3,6 lần).
Tỷ lệ xuất khẩu/GDP và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao như trên đã cho thấy xuất khẩu của nước ta đang dần được cải thiện và tỷ trọng đóng góp của xuất khẩu vào sự tăng trưởng kinh tế của đất nước đang ngày một gia tăng. Theo số liệu thống kê của Tổng cục thống kê thì xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2013 tăng trên 16% đạt hơn 62 tỷ USD. Một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến xuất khẩu đó là tỷ giá hối đoái. Không những thế, tỷ giá còn có tác động gián tiếp đến mặt bằng giá cả trong nước, lạm phát, khả năng sản xuất, công ăn việc làm … 2 Trong xu thế hội nhập toàn cầu ngày càng cao, thì tỷ giá dần được xem là một công cụ chính để điều tiết nền kinh tế.
Sự vận động của tỷ giá sẽ dẫn đến thay đổi khả năng cạnh tranh của hàng hóa trong nước đối với hàng hóa nước ngoài, từ đó ảnh hưởng đến xuất nhập khẩu, cán cân thương mại, dự trữ ngoại hối… Do vai trò quan trọng của tỷ giá đối với tổng thể nền kinh tế , nên có rất nhiều nhà kinh tế đã nghiên cứu sự thay đổi của tỷ giá tác động đến cán cân thương mại nói chung hay là xuất/nhập khẩu nói riêng, nhưng nhìn chung những ảnh hưởng của biến động tỷ giá đến cán cân thương mại hay đến xuất nhập khẩu cũng vẫn còn gây ra nhiều tranh luận trong các nghiên cứu thực nghiệm. Mặc dù mối quan hệ giữa tỷ giá và cán cân thương mại, xuất nhập khẩu được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, nhưng nghiên cứu về tác động của biến động trong tỷ giá hối đoái đến lượng cầu xuất khẩu của một số mặt hàng xuất khẩu cụ thể vẫn còn rất ít trong số những nghiên cứu đã được thực hiện, đặc biệt là tại Việt Nam. Đó cũng chính là lý do tác giả đã chọn nghiên cứu đề tài “ Tác động của thay đổi trong tỷ giá hối đoái đến cầu xuất khẩu thủy sản của Việt Nam”. Mục đích của bài nghiên cứu này là đánh giá tác động của sự biến đổi trong tỷ giá hối đoái lên cầu xuất khẩu thủy sản ở Việt Nam.
Do đó kết quả cảu bài nghiên cứu này sẽ trả lời cho câu hỏi: “Có tồn tại mối quan hệ trong ngắn hạn và trong dài hạn giữa biến động tỷ giá hối đoái với cầu xuất khẩu thủy sản của Việt Nam hay không?”. Từ đó sẽ đưa ra những gợi ý cho những nhà làm chính sách về chiến lược cải thiện xuất khẩu thủy sản nói riêng và xuất khẩu nói chung thông qua cơ chế điều hành tỷ giá. 3 Cấu trúc của bài nghiên cứu bao gồm: Chương II: Tác giả sẽ tóm tắt về kết quả của những nghiên cứu trước đây. Sơ lược về tình hình xuất khẩu thủy sản của Việt Nam.
Chương III: Trình bày về dữ liệu, mô hình, phương pháp, và cách thức xây dựng và tính toán các biến số trong mô hình. Chương IV: Kết quả chính của bài nghiên cứu Chương V: Tổng kết một cách ngắn gọn về bài nghiên cứu. 4 CHƯƠNG 2: CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2. Lý thuyết về tỷ giá hối đoái và tác động của tỷ giá hối đoái đến hoạt động xuất khẩu 2.
Tỷ giá hối đoái: Trong tài chính, tỷ giá hối đoái (còn được gọi là tỷ giá trao đổi ngoại tệ, tỷ giá Forex, tỷ giá FX hoặc Agio) giữa hai loại tiền tệ là tỷ giá mà tại đó một đồng tiền này sẽ được trao đổi cho một đồng tiền khác. Nó cũng được coi là giá trị đồng tiền của một quốc gia so với đồng tiền của quốc gia khác. Có rất nhiều loại tỷ giá hối đoái: tỷ giá danh nghĩa, tỷ giá thực, tỷ giá thực song phương, tỷ giá thực đa phương…. Mỗi loại tỷ giá có cách định nghĩa và tính toán khác nhau.
Tỷ giá danh nghĩa là tỷ giá hàng ngày được sử dụng giao dịch trên thị trường. Tỷ giá này được công bố hàng ngày trên thị trường bởi các ngân hàng ở các quốc gia. Tỷ giá thực là tỷ giá danh nghĩa giữa đồng tiền của hai quốc gia nhưng đã tính đến tương quan trong giá cả của hai nước. Tỷ giá thực song phương là tỷ giá danh nghĩa đã được điều chỉnh theo mức chênh lệch lạm phát giữa hai nước.
Nó là chỉ số thể hiện sức mua của đồng nội tệ so với đồng ngoại tệ. Tỷ giá này được xem như là thước đo sức cạnh tranh của hai quốc gia với nhau. 5 Tỷ giá thực đa phương hay còn gọi là tỷ giá thực hiệu lực là loại tỷ giá trong đó được tính toán dựa trên rổ tiền tệ bao gồm nhiều quốc gia. Tỷ giá này là tỷ giá danh nghĩa được điều chỉnh dựa trên tỷ trọng thương mại và chỉ số giá tiêu dùng của một rổ tiền tệ của nhiều quốc gia.
Tỷ giá này là một chỉ số thể hiện sức cạnh tranh đồng tiền của một nước so với các nước khác trong rổ tiền tệ. Tác động của tỷ giá hối đoái đến xuất khẩu: Theo lý thuyết thì khi tỷ giá (cách yết giá số nội tệ để đổi lấy một đơn vị ngoại tệ) tăng tức là đồng nội tệ giảm giá thì khi đó giá cả hàng hóa xuất khẩu được định danh bằng ngoại tệ sẽ giảm làm cho lượng cầu xuất khẩu sẽ gia tăng. Theo điều kiện Marshall-Lerner thì tác động của tỷ giá đến hoạt động xuất khẩu phụ thuộc vào độ co giãn của cầu xuất khẩu theo giá. Nếu hàng xuất khẩu co giãn theo giá nhiều, thì tỷ lệ tăng lượng cầu về hàng hóa sẽ lớn hơn tỷ lệ giảm giá, do đó kim ngạch xuất khẩu sẽ tăng.
Nghiên cứu thực nghiệm cho thấy, hàng hóa thường ít co giãn theo giá cả trong ngắn hạn, bởi vì thói quen tiêu dùng nên người tiêu dùng không thể thay đổi tiêu dùng của họ một cách ngay lập tức để phản ứng lại với sự biến động trong giá cả được. Do đó, dẫn tới việc phá giá tiền tệ không tác động nhiều đến xuất khẩu trong ngắn hạn. Trong dài hạn, khi người tiêu dùng đã điều chỉnh thói quen tiêu dùng của mình theo giá mới, thì có thể xất khẩu sẽ được cải thiện. Những nghiên cứu thực nghiệm gần đây: 2.
Nghiên cứu tại nước ngoài: Lý thuyết về thương mại bao gồm rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm tiến hành ước tính hàm cầu xuất khẩu của một quốc gia hay một nhóm các quốc gia (B. Bhaskara Rao and Rup Singh, 2005; Saten Kumar, 2009; Augustine C. Việc ước tính hàm cầu xuất khẩu luôn được nhiều nhà kinh tế quan tâm vì tầm quan trọng của nó trong việc thiết kế chính sách thương mại nhằm thúc đẩy tăng trưởng cán cân thương mại của quốc gia. Những nghiên cứu này có thể chia thành hai nhóm nghiên cứu như sau: Thứ nhất là những nghiên cứu tập trung vào việc ước lượng hàm cầu xuất khẩu truyền thống, những nghiên cứu này cho rằng lượng cầu xuất khẩu sẽ phụ thuộc vào những yếu tố như: giá tương đối, thu nhập nước ngoài.
Những nghiên cứu tiêu biểu có thể thấy trong nhóm này là: Augustine C. Arize (2001) đã ước tính hàm cầu xuất khẩu truyền thống cho Singapore. Trong nghiên cứu này, tác giả đã cung cấp bằng chứng mới về tính dừng trong các vecto đồng liên kết của xuất khẩu thực, thu nhập thực nước ngoài và giá cả tương đối. Với mục đích này , tác giả đã sử dụng các kiểm định tính dừng được đề xuất bởi Hansen và Johansen (1993) và Hansen (1992a).
Ngoài ra, tác giả đã sử dụng các dữ liệu được lấy theo quý, từ quý II/1973 đến quý I/1997 để thực hiện nghiên cứu. Thứ hai, trong khi tính ổn định trong mối quan hệ dài hạn của xuất khẩu được quan tâm, thì sự điều chỉnh trong ngắn ngắn hạn của kim ngạch xuất khẩu thực tế với những thay 7 đổi của cầu nước ngoài và giá cả tương đối lại quan trọng. Cách mà xuất khẩu thực phản ứng một cách nhanh chóng đối với những thay đổi trong những nhân tố tác động lên nó là có ý nghĩa quan trọng đối với việc nắm bắt được những tác động trong tương lai có thể xảy ra khi thay đổi chính sách thương mại. Tác giả đã sử dụng mô hình hiệu chỉnh sai số ECM để đánh giá về những điều chỉnh trong ngắn hạn của cầu xuất khẩu khi có sự thay đổi trong giá tương đối và cầu nước ngoài.
Trong nghiên cứu này đầu tiên tác giả kiểm định tính dừng của các biến trong mô hình. Sau đó tác giả xác định xem có hay không mối quan hệ dài hạn giữa xuất khẩu thực, thu nhập thế giới và giá tương đối. Kết quả của kiểm định cho thấy tồn tại mối quan hệ cân bằng dài hạn giữa xuất khẩu thực, thu nhập thực và giá tương đối. Tóm lại, những kết quả trong nghiên cứu này cho thấy độ co giãn của cầu xuất khẩu theo thu nhập thực cao đã giải thích cho sự tăng trưởng nhanh trong kim ngạch xuất khẩu của Singapore trong giai đoạn nghiên cứu.
Cũng như những nước công nghiệp mới khác, Singapore đã đạt được sự gia tăng trong chất lượng và đa dạng về hàng hóa xuất khẩu của họ, do đó dẫn đến sự gia tăng đáng kể trong thị phần xuất khẩu của Singapore trên thị trường thế giới.