Chương 1 đã nêu lên tầm quan trọng của cấu trúc vốn doanh nghiệp cũng như vai trò của TTTC trong việc cung cấp thêm kênh huy động vốn cho doanh nghiệp, đặc biệt là tại các quốc gia đang phát triển. Bên cạnh đó, ASEAN là trọng tâm phát triển của Châu Á và mối quan hệ giữa các quốc gia trong Cộng đồng Kinh tế ASEAN đang ngày càng thắt chặt. Chính vì vậy, kết quả nghiên cứu tác động của sự phát triển TTTC đến cấu trúc vốn các doanh nghiệp niêm yết trong AEC sẽ có nhiều đóng góp về mặt khoa học lẫn thực tiễn. 9 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2.
Cơ sở lý thuyết về cấu trúc vốn, thị trường tài chính và chất lượng thể chế quốc gia 2. Các khái niệm liên quan cấu trúc vốn 2. Khái niệm cấu trúc vốn Tài nguyên cơ bản của một doanh nghiệp là dòng tiền do tài sản của doanh nghiệp sản xuất ra. Khi doanh nghiệp được tài trợ hoàn toàn bằng vốn cổ phần thường, tất cả các dòng tiền đó thuộc về các cổ đông.
Khi doanh nghiệp phát hành cả chứng khoán nợ và chứng khoán cổ phần thường, doanh nghiệp phải phân chia các dòng tiền thành hai dòng, một dòng tương đối an toàn thuộc về chủ nợ và một dòng rủi ro hơn thuộc về các cổ đông. Hỗn hợp các chứng khoán khác nhau của doanh nghiệp được gọi là cấu trúc vốn doanh nghiệp. Hay nói cách khác, cấu trúc vốn được định nghĩa là sự kết hợp của nợ ngắn hạn thường xuyên, nợ dài hạn, cổ phần ưu đãi và vốn cổ phần thường được sử dụng để tài trợ cho quyết định đầu tư của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thể phát hành các chứng khoán khác nhau, nhưng phải cố gắng tìm được một kết hợp đặc thù làm tối đa hóa tổng giá trị thị trường của mình (Trần Ngọc Thơ và ctg, 2007).
Còn theo Kumar, Colombage và Rao (2017), Nguyễn Minh Kiều (2014) thì nguồn tài chính của một công ty có thể được phân loại thành vốn chủ sở hữu và nợ. Cấu trúc vốn (hay còn gọi là cơ cấu vốn) là sự hợp nhất rõ ràng của nợ và vốn chủ sở hữu mà một tổ chức sử dụng để tài trợ cho các hoạt động và đầu tư của mình. Các yếu tố xác định cấu trúc vốn của một tổ chức rất linh động về bản chất; đó là các yếu tố nội tại doanh nghiệp, ngành công nghiệp mà doanh nghiệp đang hoạt động, môi trường kinh tế vi mô và vĩ mô của doanh nghiệp. Theo Wei và Kong (2017), cấu trúc vốn tập trung vào nguồn vốn doanh nghiệp và tỷ lệ thành phần của nó.
Tuy khái niệm cấu trúc vốn của các tác giả có sự khác biệt nhất định, song khái quát, cấu trúc vốn đề cập đến mối quan hệ tỷ lệ giữa các nguồn tài chính khác nhau trong một doanh nghiệp, đó là tỷ lệ giữa tài trợ bằng vốn cổ phần và tài trợ bằng nợ. Ưu nhược điểm của tài trợ bằng nợ và vốn cổ phần Mỗi nguồn vốn đều có những ưu và nhược điểm riêng. Điển hình, tài trợ bằng nợ thường rẻ hơn và được ưa chuộng hơn tài trợ bằng vốn cổ phần, vì nợ an toàn hơn theo quan điểm của chủ nợ. Cụ thể, tiền lãi phải được trả trước cổ tức, trong trường hợp doanh nghiệp phá sản phải thanh lý tài sản thì nợ được trả trước vốn chủ sở hữu; điều này làm cho nợ trở thành một khoản đầu tư an toàn hơn vốn chủ sở hữu và do đó, những người nắm giữ nợ yêu cầu một tỷ suất hoặc lợi tức thấp hơn so với các nhà đầu tư cổ phần.
Tiền lãi trả nợ cũng được khấu trừ thuế công ty (không giống như cổ tức vốn chủ sở hữu), khiến nó thậm chí còn rẻ hơn đối với công ty phải nộp thuế. Chi phí thu xếp tài chính của nợ thường thấp hơn chi phí tài chính vốn cổ phần, và không giống như chi phí thu xếp vốn chủ sở hữu, chi phí thu xếp tài chính nợ cũng được khấu trừ thuế. Chi phí trả nợ là cố định, do vậy các cổ đông sẽ không phải chia sẻ lợi nhuận của công ty khi công ty làm ăn phát đạt. Mặc dù nợ hấp dẫn vì chi phí rẻ, nhưng nhược điểm của nó là phải trả lãi.
Nếu sử dụng nợ quá nhiều, công ty có thể không đủ khả năng thanh toán nghĩa vụ gốc và lãi, dẫn đến việc thanh lý có thể xảy ra. Trái ngược với tài trợ bằng nợ, tài trợ bằng vốn cổ phần là sử dụng vốn do các cổ đông cung cấp; do đó, không phải trả lãi cố định cho cổ đông mà chỉ trả cổ tức cho cổ đông khi công ty kinh doanh có lãi. Trong trường hợp doanh nghiệp phá sản, cổ đông sẽ chỉ được thanh toán sau khi tất cả các chủ nợ đã được thanh toán xong; chính vì vậy, vốn tự có rủi ro hơn cho các nhà đầu tư, nhưng sử dụng vốn cổ phần thì rủi ro tài chính thấp hơn cho công ty do không có nghĩa vụ phải trả cổ tức cho cổ đông của mình khi công ty không có lãi. Tuy nhiên, vốn cổ phần cũng có nhược điểm: Thứ nhất, phát hành lượng lớn vốn chủ sở hữu có thể dẫn đến pha loãng EPS nếu lợi nhuận từ các khoản đầu tư mới không đến ngay lập tức; điều này có thể khiến cổ đông thất vọng và dẫn đến giá cổ phiếu giảm.
Thứ hai, một đợt phát hành lớn cổ phiếu cho các nhà đầu tư mới có thể thay đổi quyền kiểm soát của một doanh nghiệp; do đó, nếu các chủ sở hữu sáng lập nắm giữ trên 50% vốn cổ phần, họ có thể không muốn bán cổ phần mới cho các nhà đầu tư bên ngoài, vì quyền kiểm soát biểu quyết của họ tại 11 đại hội cổ đông có thể bị mất. Hơn nữa, nếu công ty tăng tài trợ vốn cổ phần trong thời kỳ giá cổ phiếu giảm, giá nhận được sẽ quá thấp và điều này sẽ làm giảm giá trị tài sản của các chủ sở hữu hiện tại. Xét về chi phí và rủi ro liên quan đến việc tài trợ bằng nợ và bằng vốn chủ sở hữu, điều quan trọng là các nhà quản lý phải lựa chọn một chính sách cấu trúc vốn phù hợp cho công ty của họ, vì đòn bẩy tài chính là một trong những yếu tố quan trọng sẽ tác động đến hoạt động của công ty (Trần Ngọc Thơ và ctg, 2007; Brigham và Houston, 2009; Nguyễn Thành Long, Tôn Tích Quý, Nguyễn Thị Thanh Hương và Nguyễn Thúy Hoàn, 2011). Cơ cấu vốn tối ưu Lý thuyết cơ cấu vốn tối ưu cho rằng có một cơ cấu vốn tối ưu ở đó ban quản trị công ty có thể gia tăng giá trị công ty bằng cách sử dụng tỷ số đòn bẩy phù hợp.
Theo cách tiếp cận này, công ty trước tiên có thể hạ thấp chi phí sử dụng vốn thông qua việc gia tăng sử dụng nợ bởi vì chi phí sử dụng nợ (kd) thấp hơn do có khoản tiết kiệm thuế. Tuy nhiên, khi tỷ số nợ gia tăng thì rủi ro cũng gia tăng, do đó, nhà đầu tư sẽ gia tăng lợi nhuận đòi hỏi ke (suất sinh lợi của vốn cổ phần thường). Mặc dù vậy, sự gia tăng ke lúc đầu vẫn không hoàn toàn xóa sạch lợi ích của việc sử dụng nợ như là một nguồn vốn rẻ hơn cho đến khi nào nhà đầu tư tiếp tục gia tăng lợi nhuận đòi hỏi khiến cho lợi ích của việc sử dụng nợ không còn nữa. Và khi tỷ số đòn bẩy gia tăng đến một điểm nào đó thì chi phí sử dụng vốn nói chung tăng lên (do rủi ro tăng lên khiến cho kd và ke đều tăng).
Do đó, lý thuyết cơ cấu vốn tối ưu ngầm hiểu rằng: (1) Chi phí sử dụng vốn phụ thuộc vào cơ cấu vốn công ty, và (2) Có một cơ cấu vốn tối ưu. Vậy cơ cấu vốn tối ưu là cơ cấu vốn cân đối được giữa rủi ro và lợi nhuận, nên tối đa hóa được giá cả cổ phiếu của công ty (Nguyễn Minh Kiều, 2014). Còn theo Trần Ngọc Thơ và ctg (2007), cấu trúc vốn tối ưu xảy ra ở điểm mà tại đó tối thiểu hóa chi phí sử dụng vốn, tối thiểu hóa rủi ro và tối đa hóa giá trị doanh nghiệp. Giá trị của doanh nghiệp độc lập với cấu trúc vốn nếu có các thị trường vốn hoàn hảo và không có thuế thu nhập doanh nghiệp; còn với sự hiện diện của thuế thu 12 nhập doanh nghiệp, chi phí phá sản và chi phí đại diện, có thể có một cấu trúc vốn tối ưu gồm cả nợ và vốn cổ phần thường.
Cách đo lường cấu trúc vốn Nhìn chung, không có định nghĩa nào về cấu trúc vốn được chấp nhận phổ biến, và các nhà nghiên cứu đồng ý rằng cách đo lường cấu trúc vốn nên thay đổi tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu. Điển hình, theo Haron (2014), các nghiên cứu liên quan đến vấn đề đại diện sẽ sử dụng tỷ lệ nợ trên giá trị doanh nghiệp, nghiên cứu về đòn bẩy và căng thẳng tài chính sẽ thích sử dụng tỷ lệ thanh toán lãi vay (interest-coverage ratio), đòn bẩy cũng có thể đo lường bằng tỷ lệ tổng nợ trên tổng tài sản, và nợ trên vốn chủ sở hữu; trong đó: nợ có thể được chia thành các thành phần khác nhau, đồng thời, tử số và mẫu số có thể được đo bằng giá trị sổ sách hoặc/và giá trị thị trường. Nghiên cứu của Haron (2014) còn cho thấy cách đo lường cấu trúc vốn khác nhau sẽ cho ra những kết quả khác nhau; còn các tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xem xét cấu trúc vốn không chỉ trong ngắn hạn và dài hạn, mà còn đo lường dựa trên giá trị thị trường và giá sổ sách. Bên cạnh đó, việc sử dụng giá trị sổ sách hay giá trị thị trường của đòn bẩy đều có những ưu nhược điểm riêng.
Cụ thể, đòn bẩy theo giá trị sổ sách không bị ảnh hưởng bởi sự biến động của giá cả thị trường nên phản ánh tốt hơn về tỷ lệ nợ mục tiêu của nhà quản lý; trong khi đó, đòn bẩy theo giá trị thị trường không thể phản ánh những thay đổi cơ bản do một người ra quyết định của công ty khởi xướng bởi vì nó phụ thuộc vào một số yếu tố không thuộc quyền kiểm soát trực tiếp của công ty.