Chương 1: Giới thiệu TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 - Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiện cứu trước đây - Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. - Chương 4: Kết quả nghiên cứu - Chương 5: Kết luận và khuyến nghị TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2. Khái quát về thanh khoản và khả năng sinh lời của ngân hàng 2. Thanh khoản và rủi ro thanh khoản 2.
Thanh khoản ngân hàng Để đi sâu tìm hiểu về hoạt động quản lý thanh khoản tại ngân hàng chúng ta cần biết một số khái niệm cơ bản sau : Tính thanh khoản của tài sản Là khả năng chuyển tài sản thành tiền, được đo bằng thời gian và chi phí. Chi phí ở đây không phải là chi phí để bán tài sản thành tiền mà là tổn thất (giảm giá) của tài sản. Thời gian và chi phí càng cao thì tính thanh khoản của tài sản càng thấp và ngược lại. Tính thanh khoản của tài sản phản ánh rủi ro (tổn thất) khi chuyển tài sản thành tiền trong khoảng thời gian nhất định.
Tuy nhiên một số trường hợp, một tài sản muốn bán nhanh (thời gian chuyên tiền ngắn) thì chi phí (tổn thất) lại lớn. Điều này cho thấy tính thanh khoản của một tài sản phụ thuộc vào nhiều nhân tố và có thể thay đổi giữa các vùng, các nước. Vì vậy những tài sản nào đáp ứng cả hai yêu cầu : thời gian ngắn và chi phí thấp mới được xếp vào tài sản thanh khoản. Ngân hàng nắm giữ danh mục tài sản có tính thanh khoản khác nhau.
Kết cấu tài sản với tính thanh khoản khác nhau tạo nên tính thanh khoản của nhóm tài sản hoặc tổng tài sản. Tính thanh khoản của nguồn Ngân hàng huy động vốn để tạo lập nên các tài sản, trong đó có các tài sản có tính thanh khoản cao. Như vậy khả năng huy động tạo khả năng thanh toán cho ngân hàng, phản ánh được tính thanh khoản của nguồn vốn. Tính thanh khoản của nguồn được đo bằng thời gian và chi phí để mở rộng nguồn khi cần thiết.
Thời gian và chi phí càng thấp, tính thanh khoản của nguồn càng cao. Tính thanh khoản của nguồn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như sự phát triển của thị trường tài chính, sự gia TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 tăng thu nhập của dân cư và tính nhạy cảm của thu nhập với lãi suất, vị trí mạng lưới ngân hàng… Cung và cầu thanh khoản, mua và bán thanh khoản Cung thanh khoản chính là khả năng cung ứng tiền của một ngân hàng thương mại nhằm đáp ứng nhu cầu thanh toán của khách hàng, bao gồm việc giữ tài sản thanh khoản và khả năng huy động mới. Cầu thanh khoản là nhu cầu thanh toán của khách hàng mà ngân hàng có nghĩa vụ đáp ứng. Cầu thanh khoản bao gồm yêu cầu chi trả và vay hợp pháp của ngân hàng.
Việc ngân hàng bán các tài sản để đáp ứng nhu cầu thanh khoản gọi là bán thanh khoản. Việc mở rộng nguồn để đáp ứng nhu cầu thanh khoản gọi là mua thanh khoản trên thị trường. Cả bán và mua thanh khoản đều gắn liền với chi phí: đó là tổn thất mà ngân hàng phải chấp nhận khi bán tài sản với giá thấp hơn dự tính và lãi suất cao hơn mà ngân hàng phải trả để có nguồn mới. Chi phí này là cái giá mà ngân hàng phải trả để có được thanh khoản.
Do yêu cầu cấp bách trong thanh toán nên chi phí huy động (mua thanh khoản) của ngân hàng thường cao hơn huy động bình thường. Hoạt động thanh khoản tại ngân hàng thương mại : Tính thanh khoản của ngân hàng là khả năng của ngân hàng trong việc đáp ứng các nhu cầu thanh toán của khách hàng (ví dụ như rút tiền và yêu cầu vay của khách hàng) được tạo bởi tính thanh khoản của tài sản và tính thanh khoản của nguồn. Khả năng thanh khoản tại các ngân hàng là mục tiêu di động luôn được hình thành từ những thay đổi trên thị trường tài chính. Một ngân hàng được coi là có tính thanh khoản cao khi nó có đủ ngân quỹ và các tài sản lưu hoạt khác cùng với khả năng tăng vốn nhanh từ các nguồn khác nhau với chi phí thấp, khiến nó có khả năng đáp ứng các nghĩa vụ chi trả và các ràng buộc tài chính, theo một phương pháp thích hợp 2.
Rủi ro thanh khoản - Khái niệm Rủi ro thanh khoản là khả năng xảy ra tổn thất cho ngân hàng khi cung thanh khoản không đáp ứng được cầu thanh khoản. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Rủi ro thanh khoản chỉ là một vấn đề thông thường xảy ra hàng ngày đối với hoạt động ngân hàng. Chỉ trong trường hợp đặc biệt hạn hữu nó mới đe doạ đến khả năng thanh toán của Ngân hàng. Vì thanh khoản là vấn đề thường nhật, cho nên một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu đối với nhà quản lý là đảm bảo khả năng thanh khoản một cách thường xuyên và đầy đủ.
Tại sao ngân hàng phải đối mặt với rủi ro thanh khoản ? + Những nguyên nhân tiền đề : có 3 nguyên nhân chính khiến cho ngân hàng phải đối mặt với rủi ro thanh khoản thường xuyên là : - Ngân hàng huy động và đi vay vốn với thời hạn ngắn, và cứ tuần hoàn chúng để sử dụng cho vay với thời hạn dài hơn. Do đó, nhiều khi ngân hàng phải đối mặt với sự không trùng khớp với thời hạn đến hạn giữa tài sản nợ và tài sản có. Ngân hàng luôn phải sẵn sàng thanh khoản để đối mặt với các nhu cầu hoàn trả tức thời. - Sự nhạy cảm của tài sản tài chính với những thay đổi của lãi suất.
Khi lãi suất tăng, nhiều người gửi tiền sẽ rút tiền ra tìm kiếm nơi gửi khác có mức lãi suất cao hơn. Những người có nhu cầu tín dụng sẽ hoãn lại, hoặc rút hết số dư hạn mức tín dụng với mức lãi suất thấp hơn lãi suất thoả thuận. Như vậy thay đổi lãi suất sẽ ảnh hưởng đến luồng tiền vào ra của ngân hàng và cuối cùng là đến thanh khoản của ngân hàng. - Ngân hàng luôn phải đáp ứng nhu cầu thanh khoản một cách hoàn hảo.
Những trục trặc về thanh khoản sẽ làm xói mòn niềm tin của dân chúng vào ngân hàng. Ngân hàng phải liên hệ chặt chẽ với những khách hàng có số dư tiền gửi lớn và những khách hàng đang còn hạn mức tín dụng lớn chưa sử dụng hết để biết được kết hoạch của họ khi nào thì rút tiền và rút bao nhiêu để có phương án thanh khoản thích hợp. + Ngưyên nhân từ hoạt động : - Nguyên nhân từ bên tài sản nợ : rủi ro thanh khoản có thể phát sinh bất cứ lúc nào khi những người gửi tiền thực hiện việc rút tiền ngay lập tức. Để đáp ứng nhu cầu này ngân hàng phải đi vay trên thị trường tiền tệ hoặc bán bớt tài sản với giá thấp.
- Nguyên nhân từ bên tài sản có : rủi ro thanh khoản phát sinh liên quan đến các cam kết tín dụng. Một cam kết tín dụng cho phép người vay rút tiền vay bất cứ lúc nào trong thời hạn của nó, ngân hàng phải đảm bảo có đủ tiền ngay lập tức để TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 đáp ứng nhu cầu của khách hàng nếu không ngân hàng sẽ phải đối mặt với rủi ro thanh khoản. Như vậy trong hầu hết các trường hợp khi ngân hàng phải đối mặt với rủi ro thanh khoản thì chi phí huy động vốn bổ sung tăng lên một cách đáng kể do lượng vốn cung ứng trên thị trường giảm. Hậu quả là ngân hàng phải bán một số tài sản có độ thanh khoản thấp để đáp ứng nhu cầu gửi tiền của người gửi.
Điều này khiến cho ngân hàng gặp phải rủi ro thanh khoản nghiêm trọng và ngân hàng buộc phải bán thốc bán tháo tức thời ngay cả số tài sản khó chuyển nhượng với giá thấp. Do bán khẩn cấp một số tài sản nên khả năng thanh toán cuối cùng của ngân hàng bị đe doạ. Từ chỗ đối mặt với rủi ro thanh khoản ngân hàng sẽ đối mặt với rủi ro phá sản. Mà ngân hàng có thể bị đóng cửa nếu như không đáp ứng đủ và kịp thời nguồn thanh khoản cho dù khả năng thanh toán cuối cùng của ngân hàng là tốt.
Từ đó có thể thấy được tầm quan trọng của quản lý thanh khoản của các nhà quản trị ngân hàng. Khả năng sinh lời của ngân hàng 2. Khái niệm khả năng sinh lời Khả năng sinh lợi (profitability) là thước đo hiệu quả bằng tiền, đánh giá khả năng tạo ra lợi nhuận của ngân hàng. Khả năng sinh lời được đo lường thông qua các tỷ số về khả năng sinh lời.
Các chỉ tiêu đo lường khả năng sinh lời của ngân hàng + Hệ số khả năng sinh lời của tài sản ROA (Return on Asset) Lợi nhuận thuần ROA = Tài sản Có bình quân Ý nghĩa: Một đồng Tài sản Có (tổng TÀI SẢN) tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này cho thấy chất lượng của công tác quản lý tài sản Có. Tài sản Có sinh lời càng lớn thì hệ số nói trên càng lớn + Hệ số khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu ROE (Return on Equity) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Lợi nhuận ròng ROE = VCSH bình quân Ý nghĩa: một đồng vốn chủ sở hữu tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này cho thấy hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng, khả năng sinh lời trên một đồng vốn chủ sở hữu + Tỷ lệ thu nhập hoạt động cận biên: Tổng thu từ hoạt động- Tổng chi phí TL TN hoạt động cận biên = Tổng tài sản có bình quân Tỷ lệ này cho biết một đồng tài sản sinh ra bao nhiêu đồng lãi từ hoạt động ngân hàng.
+ Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên Thu lãi từ khoản cho vay và ĐTCK- = phí trả lãi cho tiền gửi và nợ khác Chi TLTN lãi cận biên = Tổng tài sản có bình quân Tỷ lệ này cho biết một đồng tài sản sinh ra bao nhiêu đồng lãi cho vay. + Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên Thu ngoài lãi – Chi ngoài lãi TLTN ngoài lãi cận biên = Tổng tài sản có bình quân Tỷ lệ này cho biết một đồng tài sản sinh ra bao nhiều đồng lãi từ các hoạt động ngoài cho vay. Giống như tất cả các chỉ số tài chính khác, mỗi tỷ lệ đo lường khả năng sinh lời được sử dụng trong từng trường hợp khác nhau và phản ánh những ý nghĩa TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 không khác nhau đáng kể.