Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ NGUỒN VỐN HUY ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái niệm Ngân hàng thương mại hình thành và phát triển trải qua quá trình lâu dài, gắn liền với sự phát triển của nhiều hình thái kinh tế xã hội. Khi nền kinh tế thị trường phát triển với quy mô kinh tế gia tăng, hoạt động ngoại thương đã làm phát sinh nhu cầu đổi khác, thanh toán tích luỹ, tập trung,… tiền tệ giữa các quốc gia đã mở rộng quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh. Đây chính là cơ sở cho sự ra đời và phát triển của ngân hàng thương mại. Ngân hàng thương mại ra đời và phát triển gắn liền với nền sản xuất hàng hóa, nó kinh doanh loại hàng hóa rất đặc biệt đó là “tiền tệ”.
Thực tế các ngân hàng thương mại kinh doanh “quyền sử dụng vốn tiền tệ”. Nghĩa là ngân hàng thương mại nhận tiền gửi của công chúng, của các tổ chức kinh tế, xã hội, và sử dụng số tiền đó để cho vay và làm phương tiện thanh toán với những điều kiện ràng buộc là phải hoàn trả lại vốn và lãi nhất định theo thời hạn đã thoả thuận. Theo luật “các tổ chức tín dụng” (2010) quốc hội Việt Nam ban hành ngày 16/06/2010 thi ngân hàng thương mại được định nghĩa như sau: Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận.1 Trung gian tín dụng Đây là chức năng đặc trưng và cơ bản nhất của ngân hàng và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế hàng hóa phát triển. Thực hiện chức năng này, một mặt ngân hàng thương mại huy động và tập trung các nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi của tổ chức kinh tế, cá nhân, tiền tiết kiệm của dân cư… để hình thành nguồn vốn cho vay.
Mặt khác, trên cơ sở nguồn vốn huy động được ngân hàng sử dụng nguồn vốn đó để cho vay đáp ứng các nhu cầu sản xuất kinh doanh và tiêu dùng của các chủ thể khác trong nền kinh tế. Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng thương mại đóng vai trò là “cầu nối” giữa người dư thừa vô và người có nhu cầu về vốn. Trang 6 Chức năng trung gian tín dụng có ý nghĩa lớn đối với nền kinh tế, giúp điều hòa vốn tiền tệ từ nơi thừa đến nơi tạm thời thiếu hụt làm giảm tối đa lượng vốn nhàn rỗi trong xã hội và đáp ứng kịp thời về nhu cầu vốn của kinh tế, góp phần thúc đẩy nhanh quá trình vận động của vốn tiền tệ trong xã hội.2 Trung gian thanh toán và tạo phương tiện thanh toán cho nên kinh tế Đây là chức năng quan trọng, không những thể hiện rõ bản chất của NHTM mà còn cho thấy tính chất đặc biệt trong hoạt động của NHTM. NHTM đứng ra làm trung gian để thực hiện các khoản giao dịch thanh toán giữa các ngân hàng, giữa người mua, người bán,… để hoàn tất các quan hệ kinh tế thương mại giữa họ với nhau, là nội dụng thuộc chức năng trung gian thanh toán của NHTM.
Chức năng trung gian thanh toán có ý nghĩa lớn đối với nền kinh tế vì đã tạo điều kiện thuận lợi giúp khách hàng thanh toán nhanh chóng, hiệu quả và an toàn. Từ đó đẩy nhanh quá trình lưu thông hàng hóa, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Chức năng trung gian thanh toán là tiền đề và cơ sở để các ngân hàng thương mại tạo ra tiền ghi sổ, góp phần tăng quy mô tín dụng cho nền kinh tế, vừa tiết kiệm tiền mặt trong lưu thông, tiết kiệm chi phí lưu thông tiền tệ lại vừa tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều dịch vụ khác của ngân hàng phát triển. Mặt khác chức năng trung gian thanh toán sẽ làm tăng uy tín của ngân hàng lên thông qua các dịch vụ ngày càng được mở rộng.3 Cung cấp dịch vụ cho nền kinh tế Các dịch vụ gắn liền với hoạt động ngân hàng, cung cấp dịch vụ cho khách hàng nhằm làm tăng doanh thu và lợi nhuận cho ngân hàng, mà dịch vụ ngân hàng còn có tác dụng hỗ trợ các mặt hoạt động chính của NHTM mà trước hết là hoạt động tín dụng và hoạt động huy động vốn.
Vì vậy, các NHTM chỉ nhận cung ứng các dịch vụ có liên quan đến hoạt động ngân hàng. Các nhiệm vụ cụ thể của chức năng này là: Dịch vụ ngân quỹ và chuyển tiền nhanh quốc nội Dịch vụ kiều hối và chuyển tiền nhanh quốc tế Dịch vụ ủy thác Dịch vụ tư vấn đầu tư, cung cấp thông tin Dịch vụ NH điện tử… Trang 7 1. Tạo tiền Ngân hàng thương mại ngoài chức năng tín dụng lợi nhuận từ chênh lệch giữa lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay. NH còn đầu tư và tìm lợi nhuận từ trái phiếu chính phủ, cổ phiếu giữa các doanh nghiệp cổ phần, thu nhập từ ngoại hối: vàng, đá quý, bảo lãnh tín dụng thư xuất nhập khẩu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng.
Các phí thanh toán chuyển khoản, thẻ tín dụng,… ngoài ra một số NH còn đầu tư vào lĩnh vực bất động sản, hạ tầng cơ sở,… 1.3 Vai trò Góp phần thúc đẩy hoạt động đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh và hoạt động xuất nhập khẩu. Đây là kết quả tác động nhiều mặt của đổi mới hoạt động ngân hàng, nhất là những cố gắng của ngành ngân hàng trong việc huy động các nguồn vốn trong nước cho đầu tư phát triển, trong việc đổi mới chính sách cho vay và cơ cấu tín dụng theo hướng căn cứ chủ yếu vào tính khả thi và hiệu quả của từng dự án, từng lĩnh vực ngành nghề để quyết định cho vay. Dịch vụ ngân hàng của phát triển cả về chất lượng và chủng loại, góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh. Đã hỗ trợ có hiệu quả trong việc tạo việc làm mới và thu hút lao động, góp phần cải thiện thu nhập và giảm nhiều bền vững.
Thông qua nguồn vốn tín dụng cho các chương trình và dự án phát triển sản suất kinh doanh, hàng năm hệ thống ngân hàng đã góp phần tạo thêm được nhiều việc làm mới, nhất là tại các vùng nông thôn. Việc sử dụng nguồn vốn ngân hàng cho mục đích này ngày càng có tính chuyên nghiệp, minh bạch và hiệu quả, nhất là từ khi tín dụng chính sách được tách bạch với tín dụng thương mại và giao cho ngân hàng chính sách xã hội đảm nhiệm. Góp phần tích cực vào việc bảo vệ môi trường sinh thái, đảm bảo phát triển bền vững. Đóng góp được thể hiện qua công tác thẩm định dự án, quyết định cho vay vốn ngân hàng cho các dự án và giám sát thực hiện một cách chặt chẽ sao khi cho vay, các TCTD luôn chú trọng yêu cầu các khách hàng đảm bảo an toàn và hiệu quả trong việc sử dụng vốn vay, tuân thủ các cam kết quốc tế và các quy định về bảo vệ môi trường Trang 8 1.2 NGUỒN VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái niệm nguồn vốn Vốn của ngân hàng thương mại đem lại những giá trị tiền tệ ngân hàng tạo lập hoặc huy động được, dùng để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác.
Thực chất, vốn của ngân hàng là một bộ phận của thu nhập quốc dân tạm thời nhàn rỗi trong quá trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng, người chủ sở hữu của chúng gửi vào ngân hàng với mục đích thanh toán, tiết kiệm hay đầu tư. Nói cách khác, họ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn cho ngân hàng, đề ngân hàng trả lại cho họ một khoản thu nhập.2 Kết cấu nguồn vốn của ngân hàng thương mại 1.1 Vốn tự có a) Khái niệm Vốn tự có, còn gọi là vốn chủ sở hữu, là vốn riêng của một NHTM. Là số vốn tối thiểu, bắt buộc một NHTM phải có để được cấp giấy phép kinh doanh, đồng thời là cơ sở thu hút các nguồn vốn khác. Vốn tự có của ngân hàng thương mại đem lại những giá trị tiền tệ ngân hàng tạo lập được thuộc về sở hữu của ngân hàng.
b) Đặc điểm Đây là loại vốn ngân hàng có thể sử dụng lâu dài để hình thành nên trang thiết bị, nhà cửa cho ngân hàng. Vốn này chiếm tỷ lệ trong tổng nguồn vốn (thông thường từ 10 % đến 15%) của ngân hàng song lại là điều kiện pháp lý bắt buộc khi thành lập một ngân hàng. c) Phân loại Vốn tự có gồm các thành phần: vốn tự có cơ bản, vốn tự có bổ sung. Vốn tự có cơ bản: là vốn điều lệ-vốn pháp định Vốn tự có bổ sung trong quá trình hoạt động của ngân hàng gia tăng của chủ thể theo phương thức khác nhau tùy thuộc vào điều kiện cụ thể và các quỹ như: quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự trữ đặc biệt và quỹ khác.2 Vốn huy động a) Khái niệm Vốn huy động (VHĐ) là tài sản bằng tiền của các tổ chức và cá nhân mà NH đang tạm thời quản lý và sử dụng với trách nhiệm hoàn trả, vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu và quan trọng nhất của bất kỳ một NHTM nào.
Chỉ có các NHTM mới được quyền huy động vốn dưới nhiều hình thức khác nhau. Trang 9 b) Đặc điểm Huy động vốn được coi là hoạt động cơ bản, có tính chất sống còn đối với bất kỳ một NHTM nào, vì hoạt động này tạo ra nguồn vốn chủ yếu của các NHTM. Vốn huy động chiếm tỷ trọng lớn trong nguồn vốn của NHTM. c) Nguyên tắc Huy động vốn theo quy định pháp luật: hoàn trả gốc và lãi cho khách hàng vô điều kiện, tham gia bảo hiểm tiền gửi theo quy định hiện hành, giữ gìn bí mật số dư và hoạt động của tài khoản khách hàng, không được cạnh tranh bất hợp lý (thông tin giá, khuyến mãi bất hợp pháp,…).
Cơ cấu huy động vốn phù hợp với cơ cấu sử dụng vốn. d) Phân loại Vốn huy động của ngân hàng bao gồm vốn tiền gửi, vốn huy động thông qua các chứng từ có giá, nguồn vốn đi vay của các ngân hàng khác. Trong tổng số nguồn vốn hoạt động, vốn tiền gửi làm nguồn vốn hoạt động chủ yếu của ngân hàng.