Luận văn thạc sĩ tác động của quản trị tri thức và môi trường đạo đức kinh doanh đến kết quả hoàn thành công việc của nhân viên ngân hàng

Luận văn thạc sĩ kinh tế nghiên cứu tác động của quản trị tri thức và môi trường đạo đức kinh doanh đến kết quả hoàn thành công việc, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân,

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2015

298
3
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. PHẦN MỞ ĐẦU

1.1. Vấn đề nghiên cứu

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.3. Phạm vi, đối tượng và phương pháp nghiên cứu

1.4. Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu

1.5. Kết cấu đề tài nghiên cứu

2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ TRI THỨC VÀ MÔI TRƯỜNG ĐẠO ĐỨC KINH DOANH CỦA MỘT TỔ CHỨC

2.1. Lý thuyết nguồn tri thức (Knowledge based)

2.1.1. Khái niệm về tri thức

2.1.2. Lý thuyết nguồn tri thức (Knowledge Based)

2.1.3. Phân loại tri thức

2.2. Quản trị tri thức (Knowledge Management)

2.2.1. Thành phần của quản trị tri thức

2.2.2. Tầm quan trọng của quản trị tri thức

2.3. Lý thuyết môi trường đạo đức kinh doanh (Ethical Climate Theory)

2.3.1. Khái niệm môi trường đạo đức

2.3.2. Phân loại môi trường đạo đức

2.3.3. Tầm quan trọng của môi trường đạo đức kinh doanh

2.3.4. Khả năng chấp nhận rủi ro (Risk taking propensity)

2.4. Khái niệm rủi ro và khả năng chấp nhận rủi ro

2.4.1. Phân loại khả năng chấp nhận rủi ro

2.4.2. Tầm quan trọng của khả năng chấp nhận rủi ro

2.5. Kết quả hoàn thành công việc cá nhân

2.5.1. Phân loại kết quả hoàn thành công việc của nhân viên

2.5.2. Tầm quan trọng của việc đánh giá kết quả hoàn thành công việc của nhân viên

2.6. Các yếu tố tác động đến kết quả hoàn thành công việc của nhân viên

2.6.1. Tác động của quản trị tri thức đến kết quả hoàn thành công việc của nhân viên

2.6.2. Tác động của môi trường đạo đức đến kết quả hoàn thành công việc của nhân viên

2.6.3. Tương quan giữa môi trường đạo đức với quản trị tri thức và kết quả hoàn thành công việc của nhân viên

2.6.4. Tác động của môi trường đạo đức và khả năng chấp nhận rủi ro đến kết quả hoàn thành công việc của nhân viên

2.6.5. Nghiên cứu về yếu tố tác động đến kết quả hoàn thành công việc của nhân viên trong lĩnh vực ngân hàng

3. TÌNH HÌNH QUẢN TRỊ TRI THỨC, MÔI TRƯỜNG ĐẠO ĐỨC KINH DOANH VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HOÀN THÀNH CÔNG VIỆC CỦA NHÂN VIÊN Ở CÁC NHTM VIỆT NAM

3.1. Đặc điểm nguồn nhân lực ở các NHTM Việt Nam

3.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống NHTM Việt Nam

3.1.2. Đặc điểm nguồn nhân lực

3.1.3. Tri thức và quản trị tri thức

3.1.4. Môi trường đạo đức kinh doanh

3.1.5. Khả năng chấp nhận rủi ro

3.1.6. Kết quả hoàn thành công việc của nhân viên Ngân hàng

4. XÂY DỰNG GIẢ THUYẾT, MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP KIỂM ĐỊNH

4.1. Xây dựng giả thuyết và mô hình nghiên cứu

4.1.1. Tác động của quản trị tri thức đến kết quả hoàn thành công việc của nhân viên

4.1.2. Tác động của môi trường đạo đức kinh doanh đến kết quả hoàn thành công việc của nhân viên

4.1.3. Tác động của môi trường đạo đức kinh doanh lên quản trị tri thức và kết quả hoàn thành công việc cá nhân

4.1.4. Tác động của môi trường đạo đức kinh doanh đến khả năng chấp nhận rủi ro và kết quả hoàn thành công việc của nhân viên

4.2. Phương pháp và quy trình nghiên cứu

4.3. Xây dựng bộ biến đo lường các khái niệm nghiên cứu

4.3.1. Bộ biến đo lường khái niệm quản trị tri thức

4.3.2. Biến đo lường khái niệm môi trường đạo đức kinh doanh

4.3.3. Bộ biến đo lường khái niệm khả năng chấp nhận rủi ro

4.3.4. Bộ biến đo lường khái niệm kết quả hoàn thành công việc của nhân viên

5. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

5.1. Đánh giá sơ bộ bộ thang đo các khái niệm nghiên cứu

5.1.1. Đánh giá độ tin cậy của bộ thang đo

5.1.2. Đánh giá giá trị phân biệt, giá trị hội tụ của bộ thang đo các khái niệm nghiên cứu

5.2. Nghiên cứu chính thức

5.2.1. Đối tượng nghiên cứu

5.2.2. Quy mô mẫu

5.2.3. Đánh giá bộ thang đo

5.2.4. Kiểm định bộ thang đo bằng phân tích nhân tố khẳng định CFA và hệ số tin cậy

5.3. Tổng hợp

5.3.1. Tiêu chí kiểm định

5.3.2. Kết quả kiểm định CFA

5.4. Kiểm định mô hình

5.4.1. Kiểm định mô hình lý thuyết

5.4.2. Kiểm định giả thuyết

5.4.3. Kiểm định mô hình nghiên cứu bằng phương pháp Bootstrap

5.5. Phân tích mô hình đa nhóm

5.5.1. Phân tích sự khác biệt theo tính chất sở hữu của NHTM

5.5.2. Phân tích sự khác biệt phân theo đơn vị công tác

5.5.3. Phân tích sự khác biệt phân theo tính chất công việc

5.5.4. Phân tích sự khác biệt phân theo kinh nghiệm làm việc

6. Ý NGHĨA VÀ KẾT LUẬN

6.1. Kết quả và đóng góp của nghiên cứu

6.1.1. Tóm tắt kết quả nghiên cứu

6.1.2. Đóng góp của nghiên cứu đối với khung lý thuyết

6.1.3. Đóng góp về mặt thực tiễn của Nghiên cứu

6.2. Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 2: BẢN MÔ TẢ CÔNG VIỆC MỘT SỐ VỊ TRÍ TUYỂN DỤNG

PHỤ LỤC 3: BIỂU ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HOÀN THÀNH CÔNG VIỆC

PHỤ LỤC 4: BẢNG CÂU HỎI NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG

PHỤ LỤC 5: HỆ SỐ R2 – SQUARED MULTIPLE CORRELATIONS

Tóm tắt

I. Tổng quan về tác động của quản trị tri thức đến hiệu quả nhân viên ngân hàng

Quản trị tri thức (QTTT) là một yếu tố quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả làm việc của nhân viên ngân hàng. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, việc quản lý và sử dụng tri thức một cách hiệu quả không chỉ giúp ngân hàng tối ưu hóa quy trình làm việc mà còn nâng cao sự hài lòng của nhân viên. Nghiên cứu cho thấy rằng ngân hàng nào có chiến lược QTTT tốt sẽ có khả năng cải thiện hiệu suất làm việc của nhân viên, từ đó tạo ra giá trị gia tăng cho tổ chức.

1.1. Khái niệm quản trị tri thức trong ngân hàng

Quản trị tri thức trong ngân hàng bao gồm các hoạt động thu thập, lưu trữ, chia sẻ và ứng dụng tri thức nhằm nâng cao hiệu quả làm việc. Điều này không chỉ giúp nhân viên có được thông tin cần thiết mà còn tạo ra một môi trường làm việc tích cực, khuyến khích sự sáng tạo và đổi mới.

1.2. Tầm quan trọng của tri thức trong ngành ngân hàng

Tri thức đóng vai trò then chốt trong việc ra quyết định và giải quyết vấn đề trong ngân hàng. Nhân viên có tri thức vững vàng sẽ tự tin hơn trong công việc, từ đó nâng cao hiệu suất làm việc và sự hài lòng của khách hàng.

II. Những thách thức trong quản trị tri thức tại ngân hàng hiện nay

Mặc dù quản trị tri thức mang lại nhiều lợi ích, nhưng ngân hàng cũng phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc triển khai. Các vấn đề như thiếu hụt nguồn lực, văn hóa tổ chức không khuyến khích chia sẻ tri thức, và sự kháng cự từ nhân viên có thể cản trở quá trình này. Để vượt qua những thách thức này, ngân hàng cần có chiến lược rõ ràng và sự hỗ trợ từ lãnh đạo.

2.1. Thiếu hụt nguồn lực cho quản trị tri thức

Nhiều ngân hàng gặp khó khăn trong việc đầu tư vào công nghệ và đào tạo nhân viên để quản lý tri thức hiệu quả. Điều này dẫn đến việc không thể khai thác tối đa tiềm năng của tri thức trong tổ chức.

2.2. Văn hóa tổ chức không khuyến khích chia sẻ tri thức

Một môi trường làm việc không khuyến khích chia sẻ tri thức có thể dẫn đến việc nhân viên giữ lại thông tin quan trọng, gây cản trở cho sự phát triển chung của ngân hàng.

III. Phương pháp quản trị tri thức hiệu quả cho ngân hàng

Để quản trị tri thức hiệu quả, ngân hàng cần áp dụng các phương pháp như xây dựng nền tảng công nghệ thông tin mạnh mẽ, phát triển văn hóa chia sẻ tri thức và tổ chức các chương trình đào tạo cho nhân viên. Những phương pháp này không chỉ giúp cải thiện quy trình làm việc mà còn nâng cao sự hài lòng của nhân viên.

3.1. Xây dựng nền tảng công nghệ thông tin

Công nghệ thông tin đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý tri thức. Ngân hàng cần đầu tư vào hệ thống quản lý tri thức để lưu trữ và chia sẻ thông tin một cách hiệu quả.

3.2. Phát triển văn hóa chia sẻ tri thức

Khuyến khích nhân viên chia sẻ tri thức thông qua các hoạt động nhóm, hội thảo và các chương trình đào tạo sẽ tạo ra một môi trường làm việc tích cực và sáng tạo.

IV. Ứng dụng thực tiễn của quản trị tri thức trong ngân hàng

Nhiều ngân hàng đã áp dụng thành công các chiến lược quản trị tri thức và đạt được những kết quả tích cực. Việc cải thiện quy trình làm việc, nâng cao sự hài lòng của nhân viên và khách hàng là những lợi ích rõ ràng từ việc áp dụng QTTT. Các nghiên cứu cho thấy rằng ngân hàng nào có chiến lược QTTT tốt sẽ có khả năng cạnh tranh cao hơn trên thị trường.

4.1. Cải thiện quy trình làm việc

Quản trị tri thức giúp tối ưu hóa quy trình làm việc, giảm thiểu thời gian và chi phí, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng.

4.2. Nâng cao sự hài lòng của nhân viên

Nhân viên cảm thấy hài lòng hơn khi có đủ thông tin và tri thức để thực hiện công việc của mình, từ đó tạo ra một môi trường làm việc tích cực.

V. Kết luận về tác động của quản trị tri thức đến hiệu quả nhân viên ngân hàng

Quản trị tri thức có tác động mạnh mẽ đến hiệu quả làm việc của nhân viên ngân hàng. Việc áp dụng các chiến lược QTTT không chỉ giúp nâng cao hiệu suất làm việc mà còn tạo ra một môi trường làm việc tích cực, khuyến khích sự sáng tạo và đổi mới. Ngân hàng cần tiếp tục đầu tư vào quản trị tri thức để duy trì và nâng cao vị thế cạnh tranh trên thị trường.

5.1. Tóm tắt lợi ích của quản trị tri thức

Quản trị tri thức mang lại nhiều lợi ích cho ngân hàng, bao gồm cải thiện quy trình làm việc, nâng cao sự hài lòng của nhân viên và khách hàng.

5.2. Hướng đi tương lai cho quản trị tri thức trong ngân hàng

Ngân hàng cần tiếp tục phát triển và cải tiến các chiến lược quản trị tri thức để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường và khách hàng.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

16/08/2025
Luận văn thạc sĩ tác động của quản trị tri thức và môi trường đạo đức kinh doanh đến kết quả hoàn thành công việc của nhân viên ngân hàng

Trích đoạn nội dung tài liệu

PHẦN MỞ ĐẦU Vấn đề nghiên cứu Đối với hầu hết các đơn vị kinh doanh, đầu vào và đầu ra trong quá trình sản xuất và cung ứng dịch vụ là khác nhau. Ngân hàng hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, đầu vào và đầu ra đều là tiền. Ngân hàng đóng cả hai vai trò: người đi vay và người cho vay. Vì vậy hoạt động kinh doanh ngân hàng phụ thuộc vào hai chữ: TÀI và TÂM.

Chữ TÀI đề cập đến nền tảng đầu vào vốn, cơ sở hạ tầng, kỹ thuật, quản trị, quảng bá, phát triển thị trường, quản trị tri thức. Chữ TÂM là thái độ cư xử với khách hàng, trách nhiệm xã hội, môi trường đạo đức kinh doanh. Sự hài hoà của hai yếu tố này góp phần quan trọng cho sự phát triển bền vững của ngân hàng. Những vấn đề hiện nổi bật liên quan đến tài và tâm trong thế kỷ 21 là quản trị tri thức (tài) và đạo đức kinh doanh (tâm).

Nếu có TÀI mà thiếu TÂM thì Ngân hàng không những thiếu đi mối liên kết giữa các cá nhân, bộ phận trong nội bộ ngân hàng mà còn không có được hình ảnh tốt, niềm tin và mối quan hệ lâu dài với khách hàng (Icre và ctg, 2011; Jaseviciene, 2012). Hơn nữa, đạo đức kinh doanh ngân hàng được coi là hiệu quả phi tài chính nhưng lại quan trọng như hiệu quả tài chính (Icke và ctg, 2011). Bên cạnh đó, ngân hàng đóng chức năng điều phối vốn trong nền kinh tế, nó được ví như mạch máu vận hành dòng chảy tiền tệ. Khi một ngân hàng hoạt động không tuân thủ theo chuẩn mực đạo đức, hoặc trong một số trường hợp, kinh doanh thiếu minh bạch, ra quyết định không tốt do vi phạm đạo đức nghề nghiệp, sẽ không chỉ ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của chính Ngân hàng và còn ảnh hưởng đến cả hệ thống, thậm chí gây nên khủng hoảng tài chính toàn cầu (Jaseviciene, 2012).

Có thể kể đến khủng hoảng tài chính toàn cầu diễn ra gần đây (giai đoạn 2007-2009). Dòng xoáy khủng hoảng bắt đầu khơi ngòi từ tuyên bố phá sản của ngân hàng Lehman Brothers, bắt nguồn từ lòng tham và việc quản lý phát hiện vấn đề quá chậm trễ. Hàng loạt ngân hàng Mỹ sau đó đã phải chịu cái kết giống Lehman Brothers. Không chỉ dừng lại ở Mỹ, hệ thống ngân hàng và kinh tế toàn cầu phải gồng mình gánh chịu một cuộc khủng hoảng tài chính sau đó.

Hay ở Việt Nam, vì có chữ TÀI mà thiếu chữ TÂM nên hàng loạt lãnh đạo của một số NHTM phải ra hầu toà. Đơn cử gần đây có trường hợp 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của ngân hàng ACB. Một số lãnh đạo cấp cao của ACB đã quản lý lỏng lẻo, sử dụng vốn huy động từ khách hàng không đúng mục đích, chỉ đạo nhân viên dưới quyền làm sai nguyên tắc hoạt động của Ngân hàng. Hành động này đã không những làm thất thoát vốn của Ngân hàng mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến niềm tin của người dân và các tổ chức khi thực hiện các giao dịch với ngân hàng.

Hay trường hợp xảy ra đối với NHTMCP Công Thương Việt Nam - Vietinbank, khi nhân viên quản lý lấy thông tin của khách hàng gửi tiền, lập khống bộ chứng từ và rút tiền gửi của khách hàng ra khỏi Ngân hàng sử dụng cho mục đích cá nhân. Hai ví dụ trên là những vụ việc lớn xảy ra gần đây, nhưng việc nhân viên tín dụng vi phạm đạo đức nghề nghiệp, chấp nhận cấp tín dụng cho những dự án quá rủi ro, không đủ điều kiện đã xảy ra rất nhiều ở các NHTM. Rất và rất nhiều vụ việc liên quan đến vi phạm đạo đức nghề nghiệp đã làm ảnh hưởng đến niềm tin của khách hàng. Tất cả những trường hợp nêu trên cho thấy ngân hàng, hệ thống ngân hàng và nền kinh tế bị ảnh hưởng nặng nề như thế nào nếu hoạt động kinh doanh Ngân hàng có TÀI nhưng thiếu TÂM.

Nếu kinh doanh ngân hàng chỉ có TÂM mà thiếu đi chữ TÀI thì Ngân hàng khó lòng có thể cạnh tranh và đứng vững. Bởi, ngân hàng là ngành cung ứng sản phẩm, dịch vụ với công nghệ và chất xám cao. Hơn nữa, cho dù ngân hàng có chi nhánh, liên doanh hoặc đầu tư thành lập NH 100% vốn ở nước ngoài hay không thì hoạt động của Ngân hàng vẫn mang tính toàn cầu. Từ những sản phẩm truyền thống như huy động vốn hay cấp tín dụng, khách hàng của Ngân hàng có thể là pháp nhân, thể nhân trong nước cũng có thể là pháp nhân, thể nhân nước ngoài.

Như vậy, quá trình huy động vốn hay cấp tín dụng của NH không chỉ gói gọn ở phạm vi một quốc gia mà còn trải rộng ra phạm vi quốc tế. Với dịch vụ ngân hàng, đặc biệt là dịch vụ thanh toán và chuyển tiền, ngân hàng phải liên kết với hoạt động thanh toán chuyển tiền toàn cầu. Bản thân Ngân hàng và từng nhân viên của mình cần hiểu một cách tường minh về hệ thống quy chuẩn nghiệp vụ trên phạm vi quốc tế và nội địa để có thể cung ứng tốt sản phẩm cho đa dạng các đối tượng khách hàng khác nhau. Bên cạnh đó, từng nhân viên và Ngân hàng ngoài nắm chắc kiến thức cần có kinh nghiệm và kỹ năng mềm để giải quyết đúng nguyên tắc và khéo léo trong mọi tình huống nhằm tránh những rủi ro tổ chức, rủi ro vận hành và rủi ro thị trường.

2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Như vậy cho dù ngân hàng có chữ TÂM nhưng nếu thiếu dữ liệu, thông tin và kiến thức (hay gọi chung là thiếu tri thức) thì ngân hàng sẽ tự đào thải ra khỏi vòng xoáy hoạt động của hệ thống. Cũng vì hai chữ TÀI và TÂM đặc biệt quan trọng đối với hoạt động kinh doanh tiền tệ của Ngân hàng, đến kết quả hoàn thành công việc của nhân viên làm việc ở các NHTM Việt Nam, đề tài này tập trung xác định tác động của yếu tố TÀI-QUẢN TRỊ TRI THỨC và yếu tố TÂM-MÔI TRƯỜNG ĐẠO ĐỨC KINH DOANH đến kết quả này. Đối với tri thức và quản trị tri thức (QTTT), trong suốt thập niên 1990, ở Việt Nam tri thức được coi chỉ là những kiến thức thu nhận được từ các chương trình học. Việc chia sẻ tri thức bên trong tổ chức gần như không được thực hiện bởi mỗi nhà quản lý đều cho rằng tri thức là cái riêng có của họ.

Nó như một vật trang sức, bảo bối cho quyền lực của mình (Napier, 2005). Văn hoá chia sẻ tri thức ở Việt Nam trong thời kỳ này giống những gì đã xảy ra ở Cộng Hoà Liên Bang Nga giai đoạn 1990-2002, khi các nhà quản lý cho rằng sở hữu tri thức là tài sản và sức mạnh cá nhân (Michailova và cs, 2004). Nghiên cứu của Dong và ctg (2010) cho thấy, sau những năm 1990, các doanh nghiệp Việt Nam đã nhìn nhận được việc phát triển tri thức là chiến lược sinh lời của tổ chức. Tuy nhiên, trong giai đoạn này, ở Việt Nam, tri thức được tạo ra chủ yếu là tri thức cá nhân.

Cá nhân thu nhận tri thức từ tổ chức chứ chưa có chiều ngược lại. Hay nói cách khác tổ chức hoặc chưa hoặc không thu nhận tri thức từ các cá nhân (Dong và ctg, 2010). Quản trị tri thức bao gồm cơ sở hạ tầng tri thức và quản trị tri thức (Gold và ctg, 2001). Trong đó cơ sở hạ tầng tri thức bao gồm cơ sở hạ tầng công nghệ, cấu trúc, văn hoá tri thức.

Quá trình quản trị tri thức bao gồm: thu nhận tri thức, chuyển giao tri thức, ứng dụng và bảo vệ-gìn giữ tri thức (Gold và ctg, 2001). Như vậy, quản trị tri thức ở các doanh nghiệp Việt Nam trước năm 1990 chỉ đang chú trọng vào cơ sở hạ tầng tri thức. Vào những năm 1990, các doanh nghiệp ở Việt Nam chú trọng thêm phần thu nhận tri thức nhưng chỉ dừng lại ở việc cá nhân thu nhận tri thức từ tổ chức. Tổng kết lý thuyết về quản trị tri thức cho thấy nghiên cứu về kết quả của quản trị tri thức chủ yếu tập trung xác định tác động của quản trị tri thức đến kết quả tổ chức.

Ví dụ nghiên cứu của Barney, (1991); Grant (1991); Spender và Grant, (1996); Teece, (1998); 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Bên cạnh kết quả tổ chức, kết quả hoàn thành công việc (KQHTCV) cá nhân cũng rất quan trọng, bởi kết quả hoàn thành công việc cá nhân cao ngoài việc đem lại kết quả kinh doanh tốt hơn cho tổ chức còn giảm tỷ lệ thôi việc (Ambrose và ctg, 2008; Elci và cs, 2009); tăng sự hài lòng của nhân viên đối với tổ chức (Tsai và Huang, 2008; Deshpande, 2011). Đánh giá kết quả hoàn thành công việc của cá nhân ngoài việc tạo động lực phấn đấu cho nhân viên còn cung cấp thông tin cho nhà quản lý trong quá trình ra quyết định quản trị (Orpen, 1995; George và cs, 1999). Tuy nhiên, kết quả tổng kết lý thuyết, tác giả chưa phát hiện ra nghiên cứu nào đặt giả thuyết và kiểm định về tác động trực tiếp của quản trị tri thức đến kết quả hoàn thành công việc của nhân viên.

Một số nghiên cứu xác định tác động gián tiếp của quản trị tri thức đến kết quả hoàn thành công việc của nhân viên thông qua sự hài lòng của họ đối với công việc. Ví dụ như các nghiên cứu của Kulkarni và ctg (2007); Ong và Lai, (2007); Becera và ctg (2001); Anantatmula (2007); Yu và ctg (2007); Bontis và ctg (2002); Bontis và ctg (2007); Tseng và ctg (2012). Một số khác lại nghiên cứu tác động sự hài lòng trong công việc đến kết quả hoàn thành công việc của nhân viên (Hartline và Ferrell, 1996; Yoon và ctg, 2001; Deery, 2008; Ashill và ctg, 2008; Mulki và ctg, 2008; Lim và Teo, 2010; Aboelmaged và Subbaugh, 2012; Gibs và Ashill, 2013). Nghiên cứu của Tseng và Fan (2011) xác định tác động quản trị tri thức đến kết quả cá nhân.

Tuy nhiên, Tseng và Fan (2011) không chỉ ra quan hệ trực tiếp của quản trị tri thức đối với kết quả cá nhân mà là tác động gián tiếp về thái độ của nhân viên đối với quản trị tri thức đến kết quả cá nhân thông qua sự cam kết của chính họ vào quá trình quản trị tri thức. Như vậy:  Quản trị tri thức ở các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu theo chiều cá nhân thu nhận tri thức từ tổ chức hơn là tổ chức thu nhận tri thức cá nhân.  Các nghiên cứu được tác giả tìm thấy đều xác nhận tác động của quản trị tri thức đến kết quả tổ chức thay vì đến kết quả cá nhân. Trong khi đó, kết quả hoàn thành cá nhân đóng vai trò rất quan trọng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ