Chương 1 được coi là tiền đề quan trọng để tác giả tìm hiểu và lược khảo các cơ sở lý thuyết có liên quan ở chương 2. 7 CHƯƠNG 2: LƯỢC KHẢO CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG, NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NHTM 2. LƯỢC KHẢO CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG NHTM 2. Khái niệm hiệu quả hoạt động của NHTM Trong lĩnh vực sản xuất, khái niệm về hiệu quả được phát triển bởi Koopmans (1951) và Farrel (1957).
Theo Koopamans (1951), hiệu quả kỹ thuật trong sản xuất có được khi tăng mức độ đầu ra hoặc giảm mức độ đầu vào nhất định bằng cách giảm mức độ đầu ra khác hoặc tăng mức độ đầu vào khác. Farrel (1957) thì cho rằng hiệu quả phản ánh mối quan hệ trong quá trình chuyển đổi các yếu tố đầu vào nhất định thành các yếu tố đầu ra. Sakunasingha (2006) cho rằng HQHĐ được xem là “máu” của các đơn vị kinh tế do nó cung cấp những thông tin hữu dụng về các đơn vị kinh tế. Trong lĩnh vực ngân hàng, Rose (2004) cho rằng Ngân hàng Thương mại (NHTM) có thể được xem là một tổ chức có hoạt động kinh doanh vì mục tiêu tối đa hóa giá trị cổ đông ở mức độ rủi ro cho phép.
Vì vậy, HQHĐ mà các ngân hàng quan tâm đó chính là khả năng sinh lời, thu nhập càng cao giúp ngân hàng bảo toàn được vốn, tăng khả năng mở rộng thị trường, tăng tính cạnh tranh và thu hút được nhiều nhà đầu tư. Tuy nhiên, Mester (1997) khi đề cập đến HQHĐ trong ngành ngân hàng tác giả đã tách bạch giữa hiệu quả phân bổ với hiệu quả kỹ thuật. Mester (1997) cho rằng hiệu quả phân bổ là mức độ mà các nguồn lực được phân bổ để sử dụng với giá trị kỳ vọng cao nhất, trong khi hiệu quả kỹ thuật có được khi sản lượng đầu vào tối thiểu được sử dụng để tạo ra một lượng đầu ra. Với Nguyễn Khắc Minh (2004) HQHĐ trong nền kinh tế là mối tương quan giữa đầu vào các yếu tố khan hiếm và đầu ra hàng hóa, dịch vụ.
Nói cách khác, 8 Nguyễn Khắc Minh (2004) cho rằng khái niệm HQHĐ dùng để xem xét tài nguyên được thị trường phân phối tốt đến thế nào. Theo Hồ Thị Lam (2017), HQHĐ của các NHTM “là một phạm trù kinh tế phản ánh khả năng sử dụng các nguồn lực để đạt được lợi nhuận cao nhất có thể với chi phí thấp nhất có thể”. Tóm lại hiệu quả hoạt động của NHTM có thể hiểu là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực như vốn, nhân lực, khoa học công nghệ, tài nguyên thiên nhiên …để đạt được mục tiêu nhất định. Hiệu quả hoạt động phản ánh lợi ích đạt được từ các hoạt động kinh doanh của NHTM trên cơ sở so sánh lợi ích thu được với chi phí bỏ ra.
Chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động của NHTM Trước đây, HQHĐ ngân hàng thường được đo lường bằng phương pháp truyền thống thông qua các chỉ số tài chính sau (Nguyễn Việt Hùng, 2008): Nhóm các chỉ số phản ánh khả năng sinh lời: tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM), thu nhập ngoài lãi cận biên (NOM), thu nhập ròng trên tổng tài sản (ROA), thu nhập ròng trên vốn chủ sở hữu (ROE), hệ số thu nhập trên cổ phiếu (EPS); Nhóm chỉ tiêu phản ánh thu nhập, chi phí như: tỷ suất tổng chi phí hoạt động trên tổng thu từ hoạt động, tỷ suất tổng thu hoạt động trên tổng tài sản, năng suất lao động bằng tổng thu từ hoạt động trên số lượng nhân viên làm việc đủ thời gian; Nhóm chỉ tiêu về rủi ro tài chính như: tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ cho vay ròng trên tổng tài sản, tỷ lệ tài sản nhạy cảm với lãi suất và nguồn vốn nhạy cảm với lãi suất, tỷ lệ đòn bẩy tài chính. Tuy nhiên việc sử dụng phương pháp truyền thống này đòi hỏi số lượng lớn các chỉ số và việc diễn giải cũng gây rất nhiều khó khăn (mỗi chỉ số chỉ đánh giá mối quan hệ tỷ lệ giữa hai biến cụ thể, không có tỷ số nào cho ta kết luận tổng quát về thực trạng của ngân hàng). Để khắc phục nhược điểm này, các nhà kinh tế đã ứng 9 dụng phương pháp phân tích hiệu quả biên để đo lường HQHĐ ngân hàng. Đây là phương pháp mới, hiện đại và cho kết quả hướng đến đánh giá tổng thể hơn.
Phương pháp phân tích hiệu quả biên tiếp cận theo phương pháp phi tham số thì phương pháp bao dữ liệu DEA là mô hình ước lượng được ứng dụng rộng rãi nhất kể từ năm 1957 đến nay. Charnes và cộng sự (1978) giới thiệu cách tiếp cận phương pháp bao dữ liệu DEA được phát triển từ thước đo hiệu quả kỹ thuật của Farell (1957). Từ đó, DEA được sử dụng trong nhiều lĩnh vực trong đó có lĩnh vực ngân hàng. DEA dựa trên cơ sở xây dựng đường giới hạn hiệu quả, tương tự như như hàm sản xuất trong trường hợp các yếu tố đầu ra không phải là một đại lượng vô hướng mà một véc tơ.
Mức độ hiệu quả của các ngân hàng được xác định bởi vị trí của nó so với đường giới hạn hiệu quả trong không gian đa chiều các yếu tố đầu vào, đầu ra. Phương pháp xây dựng đường giới hạn hiệu quả là việc giải nhiều lần bài toán quy hoạch tuyến tính. Đường giới hạn được hình thành như những đoạn thẳng kết nối các điểm hiệu quả nhất. Và do đó, nó sẽ tạo thành đường giới hạn sản xuất lồi.
Theo giác độ về sản xuất, DEA được chia làm hai loại mô hình: tối thiểu hóa đầu vào với giả định đầu ra không đổi và mô hình tối đa hóa đầu ra với giả định đầu vào không đổi. Theo Lovell & cộng sự (1993), trường hợp các biến đầu vào được sử dụng trong mô hình mà ngân hàng có thể kiểm soát dễ dàng thì mô hình DEA tối đa hóa đầu vào sẽ thích hợp hơn và ngược lại. Mô hình DEA tối đa hóa đầu vào thường được áp dụng trong lĩnh vực ngân hàng. Mô hình DEA tối đa hóa đầu vào Nguồn: Lovell & cộng sự (1993).
Mô hình DEA tối đa hóa đầu vào tại hình 2. ta thấy các ngân hàng L, H, B, U, H nằm trên đường giới hạn hiệu quả SS’ là các ngân hàng đạt hiệu quả. Mức độ không hiệu quả được phản ánh bằng khoảng cách từ N đến N’. Tỷ lệ ON/ON’ thể hiện hiệu quả hoạt động của ngân hàng N, nghĩa là có thể giảm chi phí đầu vào của ngân hàng N mà không làm ảnh hưởng đến đầu ra.
Như vậy, theo định nghĩa ta có thể thấy mức độ hiệu quả này nằm trong giới hạn từ 0 đến 1. Một cách tổng quát đơn giản của mô hình DEA được thể hiện tối đa hóa hiệu quả với trọng số đầu ra u và trọng số đầu vào v, cho i đầu vào x và j kết quả đầu ra y. Nếu ta đặt tổng trọng số đầu vào là 1, hiệu quả tối ưu của 1 ngân hàng được xác định theo bài toán quy hoạch tuyến tính sau: 11 Max xuv (uyj) Sao cho: vxi = 1 uyi - vxi < 0 u,v > 0 Mô hình CCR Mô hình DEA ban đầu được Charnes & cộng sự (1978) đề xuất là mô hình sản lượng không đổi theo quy mô hay còn gọi là mô hình CRS. Xét N ngân hàng với K yếu tố đầu vào và M yếu tố đầu ra.
Gọi vectơ và yi lần lượt là tập hợp đầu vào (nguồn lực hoặc chi phí) và đầu ra (sản lượng hoặc doanh thu) tương ứng. Tập hợp các vectơ đối với các ngân hàng nghiên cứu có thể ghi dưới dạng ma trận X (ma trận đầu vào) và Y (ma trận đầu ra). Mục tiêu của phân tích DEA là xây dựng mặt lồi hiệu quả phi tham số, sao cho các điểm quan sát được sẽ không nằm cao hơn đường giới hạn hiệu quả sản suất. Mô hình CRS có dạng: Min với điều kiện: -y +Y ≥ 0 - xi - X ≥ 0 (1) ≥0 Với là đại lượng vô hướng thể hiện mức độ hiệu quả của ngân hàng vectơ hằng số Nx1 Bài toán (1) được giải N lần, nghĩa là từng lần đối với mỗi ngân hàng.
Từ đó giá trị được xác định cho từng ngân hàng. Nếu = 1 thì ngân hàng đạt hiệu quả; <1 ngân hàng không đạt hiệu quả. Các ngân hàng không đạt hiệu quả có thể quy chiếu lên đường giới hạn hiệu quả, khi đó ta nhận được tổ hợp tuyến tính (X, Y). Đây chính là vị trí của ngân hàng tham chiếu giả định.
Đối với ngân hàng không đạt 12 hiệu quả ta có thể thiết lập mục tiêu giảm tỷ lệ các yếu tố đầu vào 1 đại lượng là trong khi vẫn giữ các giá trị lượng đầu tra như trước. Mô hình BCC Sau khi mô hình CCR được áp dụng rộng rãi thì Banker, Charnes và Cooper (1984) đã đề xuất thêm mô hình sản lượng thay đổi theo quy mô hay còn gọi là mô hình VRS. Mô hình này có dạng: Min với điều kiện: -y +Y ≥ 0 - xi - X ≥ 0 (2) ≥0 N1 = 1 Trong đó N1 là vectơ đơn vị Nx1. Mô hình DEA sản lượng không đổi theo quy mô CRS và sản lượng thay đổi theo quy mô VRS Nguồn: Banker, Charnes và Cooper (1984).
13 Chỉ số Malmquist (MI) Chỉ MI sử dụng để xác định sự khác biệt hiệu quả giữa hai đơn vị hoặc một đơn vị trong hai khoảng thời gian. Để tính toán HQHĐ và thay đổi tiến bộ công nghệ ta có thể sử dụng chỉ số MI phân tích dựa trên tỷ lệ của các sản lượng đầu ra. Chỉ số thay đổi năng suất nhân tố tổng hợp TFP - Malmquist đo lường sự thay đổi tổng đầu ra so với đầu vào. Giả định rằng tương ứng với mỗi thời kỳ t = 1,…T có công nghệ sản xuất Ht với Ht = [ (xt, yt): xt có thể sản xuất yt ].
Giả định rằng Ht thỏa mãn một số tiêu chuẩn nhất định để xác định hàm khoảng cách đầu ra. Hàm khoảng cách đầu ra được xác định theo Ht trong thời kỳ t như sau: D0t (xt, yt) = f (:xt, yt / Ht ) D0t (xt, yt) ≤ 1 khi và chỉ khi (x,y) H. D0t (xt, yt) = 1 khi và chỉ khi (x,y) nằm trong biên của công nghệ.