Chương 1: Cơ sở khoa học về nghiên cứu tác động của việc khai thác tài nguyên khoáng sản cát sỏi đến nền Kinh tế- Xã Hội và Môi Trường - Chương 2: Phân tích, đánh giá thực trang và ảnh hưởng của việc khai thác tài nguyên cát sỏi đến nề Kinh tế- Xã Hội và Môi trường huyện Phù Ninh tỉnh Phú Thọ (giai đoạn 2015-2020) - Chương 3: Phương hướng và biện pháp quản ly phát huy các tác động tích cực và giảm thiểu các tác động tiêu cực trong khai thác tài nguyên cát sỏi tại huyện Phù Ninh tỉnh Phú Thọ PHẢN2. NOI DUNG NGHIÊN CỨU CHUONG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VE NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CUA VIỆC KHAI THÁC TÀI NGUYEN KHOANG SAN CAT SOI DEN KINH TE-XA HOI VA MOI TRUONG 1. Các khái niệm co bản 1.1 Khai niệm về tài nguyên khoáng sản cát, sỏi - Tài nguyên khoáng sản làm vật liệu xây dựng là bắt kỳ vật liệu được sử dụng cho mục đích xây dựng. Nhiều chất hiện diện trong tự nhiên, chăng hạn như dat sét, đá, cát, và 26, thậm chi cành cây va lá, đã được sử dung dé xay dung các tòa nhà.
Chúng được chia thành nhiều loại, tùy vào mục dich sử dụng va tùy từng hạng mục mà ta sử dụng cho phù hợp. Ví dụ như khi xây đá hoặc trộn bê tông thì ta nên dùng cát vàng, cát hạt lớn, còn khi xây trát tường thi dùng cát loại min hạt nhỏ. Cát là loại vật liệu xây dựng chủ yếu „Cát ở trên các dòng sông được coi là một loại tài nguyên không tái tạo, được hình thành từ rất lâu đời gắn liền với sự hình thành của các dòng sông. Các dòng sông trên trái đất được hình thành bởi sự hoạt động xâm thực của dòng nước.
Trong quá trình chảy dòng nước bào mòn một phần của địa hình và bắt đầu sự hình thành dòng sông. Sự hình thành của dòng sông xảy ra trong một thời gian dài qua nhiều năm, tốc độ hình thành phụ thuộc vào địa chất nơi dong chảy đi qua.Trong các con sông suối dòng nước mang theo những vật xói trên thượng lưu cùng những vật liệu bị xói dọc đường tạo thành những hạt cát. Sự phân bố các hạt cát trên sông rất phức tạp ,nó phụ thuộc vào địa hình ,vận tốc chảy, bán kính cong của dòng chảy. Ở nơi nào mặt cắt co hẹp ,chỗ đó vận tốc tăng và gây nên xói ,nơi nào mặt cắt dòng sông mở rộng thì vận tốc giảm gây ra bồi.
Khi bồi mặt cắt dòng sông sẽ co hẹp lại làm tăng vận tốc, còn khi xói mặt cắt lòng sông sẽ mở rộng ra làm giảm vận tốc và quá trình trên diễn biến đến một mức cân bằng nào đó ,tại đoạn sông có sự cân bằng lòng sông có thé coi như én định. Giữa dòng chảy và lòng sông luôn có sự tương tác lẫn nhau và đại đa số các sông, lòng dẫn được biến đổi liên tục, ít khi đạt được sự cân bằng do điều kiện thủy văn không tuân theo quy luật nào. Cát trong sông sẽ đặc biệt phong phú vào mùa nước lớn. Vào mùa này ngoài cát còn có nhiều vật rắn khác có kích cỡ lớn cũng bị cuốn vào đòng chảy do vận tốc dòng chảy lớn.
Da số nguồn cát trong sông được tạo thành do các trận mưa rào lớn trên lưu vực. Nếu đất đai trên lưu vực có ít cây bao phủ thì tốc độ xâm lược càng nhanh và tạo thành dòng cát. Các hạt cát lớn di chuyển dưới đáy sông gọi là bùn cát đáy còn đối với các hạt cát nhỏ có thê bay lơ lửng trong nước một thời gian dài gọi là hạt cát lơ lửng. Càng về cửa sông thì tốc độ dòng chảy càng giảm và chỉ có hạt bùn cát có kích thước bé mới theo dòng chảy đồ ra biển.
Các hạt cát lớn bị giữ lại và lắng đọng trên dọc đường.Sau khi lũ hạ, bùn cát có thé tích tụ lại thành từng vùng được gọi là ghénh cạn( bãi cạn, cồn cát ,. Do sự hình thành của các ghénh cạn này mà luồng giao thong thủy có thé bị đổi hướng. Nguồn gốc của bùn cát ảnh hưởng rất lớn đến đặc trưng của dòng sông và tạo ra nhiều các loại sông khác nhau.2 Khai thác tài nguyên khoáng sản cát, sỏi - Khai thác tài nguyên cát sỏi là một ngành công nghiệp khai khoáng và cát là nguồn tài nguyên chủ yếu và chúng không tái tạo được. Nó là một hoạt động không thể thiếu của tất cả các nước trên thế giới.
Bao gồm tất cả các hoạt động nhằm mục đích lấy được cát trên các bãi biển , trong cồn cát nội địa và ở các lòng sông, suối. để phục vụ nhu cầu con người. Cá nhân và các công ty tư nhân đang khai thác cát cho mục đích xây dựng ngày càng gia tăng và điều này đã tạo áp lực lớn về tài nguyên cát. Đó là một thực tế mà đang trở thành một vấn đề môi trường hiện nay.
Đánh giá tác động môi trường - Đánh giá tác động môi trường là quá trình phân tích, đánh giá, dự báo ảnh hưởng đến môi trường của các dự án quy hoạch, phát triển kinh tế- xã hội, của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, công trình kinh tế, khoa học kĩ thuật, y tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng và các công trình khác, đề xuất các giải pháp thích hợp về bảo vệ môi trường 1. Vai trò, ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu - Trong học tập: + Vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn. + Tích lũy kinh nghiệm cho công việc khi làm việc ngoài thực tế. + Nâng cao kiến thức về thực tế và hoàn chỉnh kĩ năng thực hành.
- Thực tiễn: + Phân tích, đánh giá được các tác động của việc khai thác cát sỏi đến nền Kinh tế- Xã hội và môi trường, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm phát huy tác động tích cực và giảm thiểu các tác động tiêu cực. Yêu cầu quản lý việc khai thác tài nguyên cát sỏi 1.1 Yêu cầu về khai thác tài nguyên cát sỏi - Hoạt động khai thác cát, sỏi lòng sông phải đáp ứng các yêu cầu về bảo vệ lòng, bờ, bãi sông quy định tại Điều 14 Nghị định này và các yêu cầu sau: 1. Đối với trường hợp khai thác cát, sỏi ở lòng sông: a) Ranh giới khu vực khai thác phải cách mép bờ một khoảng cách an toàn tối thiêu phù hợp với chiều rộng tự nhiên của lòng sông, đặc điểm địa hình, địa chất, mức độ ổn định của bờ sông do cơ quan nhà nước có thâm quyền quy định tại khoản 2 Điều 21 Nghị định này quyết định; b) Độ dốc đáy của tuyến khai thác tương đương độ dốc tự nhiên của đáy đoạn sông khai thác và đảm bảo không làm thay đổi đột ngột độ dốc của toàn tuyến sông: độ sâu khai thác phải phù hợp với đặc điểm địa hình, địa chất của đoạn sông, bao đảm không được hình thành các hồ xoáy hoặc gia tăng nguy cơ gây mat ôn định bờ sông do cơ quan nhà nước có thâm quyền quy định tại khoản 2 Điều 21 Nghị định này quyết định; c) Trường hợp đoạn sông ở khu vực trung du, miền núi bị bồi, lắng theo mùa, căn cứ diễn biến của tình hình bồi, lắng, cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều 21 Nghị định này quyết định yêu cầu cụ thể đối với hoạt động khai thác cát, sỏi, bảo đảm phòng ngừa, hạn chế nguy cơ sạt, lở bờ, bãi sông. Đối với trường hợp khai thác cát, sỏi trên bãi sông: a) Cao độ đáy khu vực khai thác không vượt quá cao độ ứng với mực nước trung bình mùa cạn tại khu vực khai thác, trừ trường hợp kết hợp với việc khơi thông dòng chảy, tang cường khả năng thoát lũ của đoạn sông; b) Trường hợp đối với bãi nổi bán ngập, bãi hình thành theo mùa, bãi mới hình thành thi căn cứ tình hình thực thực tế, yêu cầu về phòng, chống sạt, lở bờ, bãi sông, cơ quan nhà nước có thâm quyền quy định tại khoản 2 Điều 21 Nghị định này quyết định cụ thé về phạm vi, độ sâu khu vực khai thác.
Truong hợp đang khaithác mà có hiện tượng sat, lở bờ tại khu vực khai thác, thì phải tạm dừng việc khai thác, đồng thời báo cáo ngay cho chính quyền địa phương và Sở Tài nguyên và Môi trường nơi có hoạt động khai thác để kiểm tra, xác định nguyên nhân, mức độ tác động tới lòng, bờ, bãi sông, báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định. Trường hợp không đủ điều kiện để tiếp tục khai thác thì Ủy ban nhân dân cấp tinh xem xét, điều chỉnh bổ sung vào khu vực cấm, tạm thời cắm khai thác cát, sỏi trên sông theo quy định tại khoản 5 Điều 13 Nghị định này.2 Yêu cầu chung về bảo vệ lòng, bờ, bãi sông Dự án của tổ chức, cá nhân các hoạt động quy định tại Khoản 2, khoản 3 Điều 2 Nghị định này phải đáp ứng các yêu cầu sau: 1. Phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch tài nguyên nước, quy hoạch phòng, chống lũ, đê điều và các quy hoạch khác có liên quan. Phù hợp với các quy định về hành lang thoát lũ, xả lũ của các hồ chứa, bảo vệ công trình thủy lợi, đê điều, các công trình liên quan đến tôn giáo, tín ngưỡng và công trình hạ tầng khác, trừ trường hợp xử lý khan cấp; phù hợp với các yêu cầu về bảo tồn văn hóa, bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ, phát triển hệ sinh thái tự nhiên; bảo đảm an ninh, quốc phòng và bảo vệ nguồn nước.
Bảo vệ, duy trì khả năng thoát lũ của sông; không làm suy giảm khả năng thoát lũ dẫn đến gây ngập úng bãi, vùng đất ven sông, gây sạt lở bờ, bãi sông và ảnh hưởng đến chức năng của hành lang bảo vệ nguồn nước; không làm suy giảm mực nước sông trong mùa cạn gây ảnh hưởng đến hoạt động khai thác, sử dụng nước trên sông. Không gây bôi lang, xói, lở lòng sông, gây mat ôn định bờ, bãi sông và ảnh hưởng đến chức năng của nguồn nước. Thực hiện các biện pháp phòng, chống ô nhiễm nguồn nước, bảo vệ môi trường, cảnh quan, hệ sinh thái ven sông. Tuân thủ các quy định về quản lý hành lang bảo vệ nguồn nước.