MỞ ĐẦU Chương | trình bay những ly do hình thành đề tài, tính cấp thiết của dé tài nghiên cứu, từ đó trình bày mục tiêu của nghiên cứu, xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu cũng như những ý nghĩa thực tiễn mà nghiên cứu có thé đạt được, cuối cùng là trình bày bô cục của luận văn. Chương 2: CO SỞ LÝ THUYET Chương 2 sẽ trình bày về các khái niệm lý thuyết cơ bản liên quan đến trách nhiệm của HĐQT và BKS và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp. sau đó tóm tắt và bàn luận về các nghiên cứu trước có liên quan đến dé tài nghiên cứu trong luận văn, từ đó đưa ra mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu. Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Chương 3 sẽ trình bày qui trình thực hiện nghiên cứu, định nghĩa các biến nghiên cứu, xây dựng thang đo biến độc lập, đưa ra mô hình hồi quy.
Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu, phương pháp và công cụ được sử dụng để phân tích dữ liệu nghiên cứu cũng sẽ được giới thiệu trong chương này. Chương 4: KẾT QUÁ NGHIÊN CỨU Chương 4 sẽ trình bày và bàn luận về các kết quả phân tích dữ liệu bao gồm thống kê mô ta, phân tích tương quan, phân tích hồi qui đa bién để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu. Chương 5: KẾT LUẬN VÀ KIÊN NGHỊ Chương 5 sẽ trình bày những kết luận về kết quả nghiên cứu thu được, đưa ra một số kiến nghị hàm ý quản lý cho doanh nghiệp trong việc hoạch định chính sách, chiến lược nâng cao trách nhiệm của HĐQT và BKS. Phần cuối chương sẽ trình bày những hạn chê còn tôn tại và hướng nghiên cứu tiép theo.
-5- CHUONG 2: CƠ SỞ LY THUYET VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương này trình bày về các khái niệm lý thuyết cơ bản liên quan đến trách nhiệm của HDOT và BKS và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp, sau đó tóm tắt và bàn luận về các nghiên cứu trước có liên quan đến dé tài nghiên cứu trong luận văn, từ đó dua ra mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu.1 Lý thuyết người đại diện Lý thuyết người chủ - người đại diện (sau đây gọi là lý thuyết đại diện) xuất hiện trong bối cảnh việc quản trị kinh doanh gan liền với những nghiên cứu về hành vi của người chủ và người làm thuê thông qua các hợp đồng. Những nghiên cứu dau tiên tập trung vào những van dé về thông tin không hoàn hảo trong những hợp đồng của ngành bảo hiểm Spence va Zeckhauser (1971), Ross (1973), và nhanh chóng trở thành một lý thuyết khái quát những van dé liên quan đến hợp đồng đại diện trong các lĩnh vực khác Jensen va Meckling (1976), Harris và Raviv (1978). Nhu vay, lý thuyết đại diện chính thức ra đời vào đầu những năm 1970, nhưng những khái niệm liên quan đến nó đã có một lịch sử lâu dài và đa dạng. Một vài nhà nghiên cứu đáng chú ý trong giai đoạn đầu phôi thai của lý thuyết đại diện những năm 1970 la: Armen Alchian, Harold Demsetz, Michael Jensen, William Meckling.
Lý thuyết đại diện dé cập đến mối quan hệ hợp đồng giữa một bên là người chủ quyết định công việc và một bên khác là người đại diện thực hiện các công việc đó. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về mối quan hệ này được công bố và được biết đến như một phân lý thuyết quan trọng trong toàn bộ lý thuyết về doanh nghiệp hiện đại. Lý thuyết đại diện nêu ra vấn đề chính là làm thế nào để người làm công (người đại diện) làm việc vì lợi ích cao nhất cho người tuyển dụng (người chủ) khi họ có lợi thế về thông tin hơn người chủ và có những lợi ích khác với lợi ích của những ông chủ này. Lý thuyết này kết luận răng dưới những điều kiện thông tin không hoàn hảo (không day đủ và không rõ rang), đặc điểm của hầu hết các thị trường, hai vần đề về đại diện sẽ xuât hiện là: lựa chọn bât lợi và môi nguy đạo đức.
-6- Lua chọn bat lợi là trường hợp người chủ không thé biết chắc liệu người đại diện cho mình có đủ khả năng thực hiện công việc mà họ được trả tiên để làm hay không, hay liệu khả năng làm việc của người đại diện có tương xứng với số tiền họ trả hay không. Mối nguy đạo đức là trường hợp người chủ không chắc chắn liệu chủ quyết định công việc và một bên khác là người đại diện thực hiện các công việc đó. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về mối quan hệ này được công bố, được biết đến như một phân lý thuyết quan trọng trong toàn bộ lý thuyết về người đại diện có nỗ lực tôi đa cho công việc được giao hay không, hay liệu họ có trục lợi cá nhân khi họ là người biết rõ những thông tin mà không phải cỗ đông — ông chủ nào cũng biết.2 Khái niệm về quản trị công ty Quản trị công ty có nhiều định nghĩa do cách tiếp cận khác nhau cũng như do nó bao hàm nhiều hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh. Theo OECD (2004) quản trị công ty là “hệ thống được xây dựng dé điều khiến và kiểm soát các doanh nghiệp.
Cau trúc quản trị công ty chỉ ra cách thức phân phối quyên và trách nhiệm trong số những thành phần khác nhau có liên quan tới doanh nghiệp cổ phần như HĐQT, Giám đốc, cổ đông, và những chủ thể khác có liên quan. Quản trị công ty cũng giải thích rõ qui tắc và thủ tục để ra các quyết định liên quan tới vận hành doanh nghiệp. Bang cách này, quản trị công ty cũng đưa ra cau trúc thông qua đó người ta thiết lập các mục tiêu công ty, và cả phương tiện để đạt được mục tiêu hay giám sát hiệu quả công việc.” Quản tri công ty tốt cần tạo được sự khuyến khích đối với HĐQT và Ban điều hành dé thực hiện các mục tiêu vì lợi ích doanh nghiệp và cổ đông và phải tạo điều kiện giám sát hiệu quả. Sự tôn tại của hệ thong quản trị công ty hiệu quả trong phạm vi một công ty và trong cả nên kinh tế nói chung góp phan tạo ra mức độ tin tưởng, là nên tảng cho sự vận hành của kinh tế thị trường.
Nhờ đó, chi phí vốn thấp hơn và doanh nghiệp được khuyến khích sử dụng các nguồn lực hiệu quả hon, vì thé củng cô sự phát triển của doanh nghiệp. Quản trị công ty chỉ là một phần của bối cảnh kinh tế rộng lớn hơn trong đó công ty hoạt động, bao gom các chính sách kinh tế vĩ mô, mức độ cạnh tranh trong thị trường sản phẩm và thị trường tư liệu sản xuat,. Khuôn khổ quản trị công ty cũng phụ thuộc vào môi trường pháp lý, quản lý và tổ chức. Ngoài ra, các yếu tô như đạo đức kinh doanh và ý thức của công ty về các lợi ích môi trường và xã hội của cộng đồng nơi công ty hoạt động cũng có thé ảnh hưởng tới danh tiếng và sự thành công lâu dài của công ty.
Quản trị công ty chịu sự ảnh hưởng của các mối quan hệ giữa các bên tham gia vào hệ thong quản trị. C6 đông nam quyên kiểm soát, có thé là các cá nhân, sở hữu gia đình, khối liên minh, hay các công ty khác hoạt động thông qua một tập đoàn hoặc sở hữu cổ phần chéo, có thé có ảnh hưởng lớn tới hoạt động công ty. Với tư cách là người sở hữu cố phan, nhà đầu tư tổ chức ngày càng đòi hỏi có tiếng nói trong quan trị công ty ở một số thị trường. Cá nhân từng cô đông thường không cô gắng thực hiện quyền quản trị nhưng có thé rất quan tâm tới việc được cổ đông nắm quyền kiểm soát va ban lãnh đạo đối xử công băng.
Chủ nợ đóng vai trò quan trọng trong một số hệ thống quản trị và có thể giữ vai trò như người giám sát từ bên ngoài đối với hiệu quả của doanh nghiệp. Người lao động và các bên có quyên lợi liên quan khác có vai trò quan trọng, đóng góp cho sự thành công và hiệu quả lâu dài của công ty, trong khi chính phủ thiết lập khuôn khổ tổ chức và pháp lý chung cho quản trị công ty. Vai trò của các bên có quyên lợi liên quan này và sự tương tác của họ khác biệt rất lớn giữa các quốc gia. Các mối quan hệ này tùy thuộc một phan vào luật lệ, một phần vào sự điều chỉnh tự nguyện, và quan trọng nhất là vào tác động của thị trường.
Mức độ công ty tuân thủ các nguyên tắc cơ bản về quản trị công ty tốt ngày càng là yếu tố quan trọng cho các quyết định kinh doanh. Đặc biệt là mối quan hệ giữa các thông lệ quản trị công ty và đặc điểm ngày càng mang tính quốc tế của đầu tư. Các dòng vốn từ nước ngoài giúp doanh nghiệp có khả năng tiếp cận nguôn tài chính từ nhiều nha dau tư quốc tế. Nếu các quốc gia muốn được hưởng lợi ích day đủ của thị trường von toàn cau và nêu họ muôn thu hút nguôn von lâu dai thì các hoạt động -8- quản trị công ty phải đáng tin cậy, được hiểu rõ ở cả trong lẫn ngoài nước và tôn trọng các nguyên tắc được quốc tế công nhận.
Ngay cả khi doanh nghiệp không phụ thuộc vào các nguồn vốn nước ngoài thì việc tôn trọng các thông lệ quản trị công ty tốt sẽ góp phan nâng cao lòng tin của nhà đầu tư trong nước, giảm chi phí vốn, củng cô sự vận hành tốt của thị trường tài chính, và cuối cùng là đem lại nguồn tài chính ôn định hơn. Không có mô hình quản trị công ty tốt duy nhất. Dựa vào kinh nghiệm ở cả các quốc gia thuộc và không thuộc OECD đã xác định một số yếu tố chung làm nền tảng cho quản trị công ty tốt. Một bộ nguyên tắc về quản trị công ty dựa trên các yếu tô chung này đã được phát triển dé bao quát các mô hình khác nhau đang tồn tại.
Bộ nguyên tắc này bao gồm các yếu tố: Đảm bảo cơ sở cho một khuôn khô quản trị công ty hiệu quả, quyền của cô đông và các chức năng sở hữu chính, đối xử bình đăng đối với cô đông, vai trò của các bên có quyên lợi liên quan, công bồ thông tin và tính minh bạch, trách nhiệm của HĐQT.3 Khái niệm về trách nhiệm của hội đồng quản trị và ban kiểm soát Khuôn khổ quản trị công ty cần đảm bảo định hướng chiến lược của doanh nghiệp, giám sát có hiệu quả công tác quản lý của HĐQT và trách nhiệm của HĐQT đối với doanh nghiệp và cổ đông.