CHƯƠNG 1 CO SỎ LÍ LUẬN VÈ MỐI QUAN HỆ GIỮA HOẠT ĐỘNG PHONG TRÀO VỚI HỌC TẬP VÀ HÌNH THÀNH KỸ NĂNG 1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài 1. Khái niệm hoạt động Theo Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học với tác giả Hoàng Phê (chủ biên) cho rằng: u(l)Hoạt động ỉà tiến hành những việc làm có quan hệ với nhau cặt chẽ nhằm một mục đích nhất định trong đời sổng xã hội: “hoạt động văn nghệ nghiệp dư, hoạt động ngoại giao ” (2) Hoạt động cách mạng (nói tắt) “thoát lì gia đình đi hoạt động ” (3) Vận động, cử động nhằm một mục đích nhất định nào đó “thích hoạt động không chịu ngồi yên” (4) Thực hiện một chức năng nhất định nào đó trong một chỉnh thể “máy móc hoạt động bình thường, tim ngừng hoạt động, hoạt động của thần kinh cao cấp” (5) Nguyên nhân, hiện tượng tự nhiên tạo ra một tác dụng nào đó “vỉ khuẩn hoạt động, làm chua thức ăn””. [9; 586] Sau khi tham khảo một số khái niệm nhóm tác giả xin đưa ra quan điểm về khái niệm hoạt động như sau Dưới góc độ sinh lí học: hoạt động là sự tiêu hao năng lượng, thần kinh và cơ bắp của con người tác động vào hiện thực khách quan nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình.
Quan điểm trên đồng nhất với con người và hành vi của con vật. Ví dụ: Con người thực hiện hoạt động học tập đòi hỏi phải sử dụng nguồn năng lượng và trí lực để tiếp thu lĩnh hội tri thức. Dưới góc nhìn triết học: hoạt động là phương thức tồn tại của con người, là sự tác động một cách tích cực giữa con người với hiện thực, thiết lập mối quan hệ giữa con người với thế giới khách quan. Nhằm tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới và cả về phía con người.
Như vậy hoạt động là phương thức tồn tại của con người, phương thức tồn tại của mọi sự vật hiên tượng, quy định tồn tại của sự vật hiện tượng đó. Khi 8 phương thức thay đổi sự vật hiện tượng bị thay đổi thành sự vật hiện tượng khác. Trong đề tài này khái niệm hoạt động được sử dụng như là phương thức tồn tại của con người, là sự tác động một cách tích cực giữa con người với hiện thực, thiết lập mối quan hệ giữa con người với thế giới khách quan. Nhằm tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới và cả về phía con người.
Trong hoạt động xảy ra hai quá trình Quá trình đối tượng hóa (xuất tâm): con người bằng hoạt động của mình tác động vào thế giới đối tượng nhằm tạo ra sản phẩm. Trong quá trình tiến hành hoạt động của con người đã xuất toàn bộ sức mạnh thần kinh, cơ bắp, trình độ tùy nghề, sự hiểu biết, năng lực, hứng thú của mình vào sản phẩm và tạo ra sản phẩm. Bằng quá trình đối tượng hóa mà tâm lí con người được bộc lộ vào sản phẩm, đó là quá trình chuyển từ trong ra ngoài hay còn gọi là quá trình xuất tâm hoặc quá trình khách thể hóa Quá trình chủ thể hóa (nhập tâm): chủ thể chuyển nội dung khách thể (quy luật, bản chất của sự vật) vào bản thân mình tạo nên tâm lí, ý thức, nhân cách của bản thân. Là quá trình con người chiếm lĩnh (lĩnh hội) thế giới.
Như vậy, trong quá trình con người tham gia, thực hiện hoạt động con người vừa tạo ra sản phẩm về phía thế giới, vừa tạo ra tâm lý của mình, hay nói khác đi tâm lý, ý thức, nhân cách được bộc lộ, hình thành trong hoạt động. Khái niệm phong trào Theo Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học với tác giả Hoàng Phê (chủ biên) cho rằng: “Phong trào là hoạt động chính trị, văn hóa, xã hội lôi cuốn được đông đảo quần chủng tham gia “phong trào cách mạng,phong trào thể dục””. [9; 1004] 9 Như vậy phong trào là hình thức gây chú ý, thu hút, lôi cuốn những người khác tham gia bằng các hoạt động do cá nhân, tổ chức phát động; tạo bầu không khí sôi nổi trong hoặc ngoài tổ chức. Các hoạt động này là các hoạt động hoạt động chính trị, văn hoá, xã hội lôi cuốn được đông đảo quần chúng tham gia.
Khái niệm học tập Theo Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học với tác giả Hoàng Phê (chủ biên) cho rằng: Học tập (ỉ) Học và luyện tập để hiểu biết, đề có kĩ năng “học tập văn hóa, chăm chỉ học tập ” (2) Làm theo gương tốt “học tập các đơn vị bạn, học tập tinh thần của các liệt sĩ””.[9; 587-588] Học tập là quá trình tiếp thu cái mới hoặc bổ sung, trau dồi các kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, giá trị, nhận thức hoặc sở thích và có thể liên quan đến việc tổng họp các loại thông tin khác nhau. Khả năng học hỏi là sở hữu của loài người, một số động vật. Nó không xảy ra cùng một lúc, nhưng xây dựng dựa trên và được định hình bởi những gì chúng ta đã biết. Học tập có thể được xem như một quá trình, chứ không phải là một tập họp các kiến thức thực tế và các hủ tục giáo điều.
Việc học tập của con người có thể xảy ra như là một phần của giáo dục, đào tạo phát triển cá nhân. Chơi đùa đã được tiếp cận dưới một số nhà lý luận xem như là hình thức đầu tiên của việc học. Trẻ em thử nghiệm với thế giới, tìm hiểu các quy tắc, và học cách tương tác thông qua chơi đùa. Khải niệm kỹ năng Gần đây chúng ta nghe nói rất nhiều về thuật ngữ "kỹ năng" như là kỹ năng sống, kỹ năng mềm, kỹ năng chuyên môn, trung tâm huấn luyện kỹ năng.
Theo Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học với tác giả Hoàng Phê là chủ biên: “Kỹ năng ỉà khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế “rèn luyện kỹ năng trong thực tiên ””. [9; 671] Kỹ năng được phân chia thành hai loại cơ bản là kỹ năng cứng và kỹ năng mềm. Kỹ năng cứng là kỹ năng mà chúng ta có được do được đào tạo từ nhà trường hoặc tự học, đây là kỹ năng có tính nền tảng. Kỹ năng mềm là loại kỹ 10 năng mà chúng ta có được từ hoạt động thực tế cuộc sống hoặc thực tế nghề nghiệp.
Kỹ năng mềm là loại kỹ năng vô cùng phong phú và quan trọng. Đe thành công trong cuộc sống, chúng ta cần có hai loại kỹ năng cứng và kỹ năng mềm. cần phải vận dụng linh hoạt và phù hợp hai loại kỹ năng cơ bản này trong cuộc sống và công việc. Hiện nay, nhiều ý kiến khoa học cho rằng: Kỹ năng mềm quyết định 80% sự thành đạt.
Kỹ năng “mềm” (soft skills) là thuật ngữ dùng để chỉ các kỹ năng quan trọng trong cuộc sống con người như khám phá năng lực bản thân; tư duy sáng tạo; xác định mục tiêu, lập kế hoạch và quản lý thời gian; Kỹ năng giao tiếp, lãnh đạo, làm việc theo nhóm; kỹ năng giải quyết Stress, thư giãn, vượt qua khủng hoảng; kỹ năng trong tình yêu và những kinh nghiệm trong cuộc sống. là những thứ thường không được học trong nhà trường, không liên quan đến kiến thức chuyên môn, không thể sờ nắm, không phải là kỹ năng cá tính đặc biệt mà phụ thuộc chủ yếu vào cá tính của từng người. Chúng quyết định bạn là ai, làm việc thế nào, là thước đo hiệu quả cao trong công việc. Kỹ năng mềm liên quan tới tập hợp các đặc tính con người, thái độ xã hội, thói quen cá nhân, tính thân thiện, sự lạc quan, sử dụng ngôn ngữ.
Mà dựa vào đó con người được đánh giá theo nhiều mức độ khác nhau. Kỹ năng mềm thiên khá nhiều về yểu tố bẩm sinh, tuy nhiên phần lớn con người nếu chịu khó rèn luyện thì vẫn có thể nâng cao đáng kể kỹ năng của bản thân. Điều này thực sự cần thiết, bởi vì kỹ năng mềm là một trong những yếu tố quan trọng nhất đưa bạn đến thành công. Kỹ năng “cứng” (hard skills) ở nghĩa trái ngược thường xuất hiện trên bản lý lịch, khả năng học vấn của bạn, kinh nghiệm và sự thành thạo về chuyên môn.
Bạn nghĩ rằng người ta sẽ rất ấn tượng với hàng loạt các bằng cấp của bạn, một số lượng lớn các kinh nghiệm có giá trị và những mối quan hệ ở vị trí cao. Nhưng chỉ những điều đó thôi có thể không đủ để giúp bạn thăng tiến trong công việc. Bởi bên cạnh đó, bạn còn cần phải có cả những kỹ năng mềm vì thực tế cho thấy người thành đạt chỉ có 20% là do những kiến thức chuyên môn, 80% 11 còn lại được quyết định bởi những kỹ năng mềm họ được trang bị. Chìa khóa dẫn đến thành công thực sự là bạn phải biết kết họp cả hai loại kỹ năng này.
Quá trình học tập và hình thành kỹ năng của sinh viên 1. Quá trình học tập Hoạt động học tập là hoạt động chuyên hướng vào sự tái tạo lại tri thức ở người học. Sự tái tạo ở đây hiểu theo nghĩa là phát hiện lại. Sự thuận lợi cho người học ở đây đó là con đường đi mà để phát hiện lại đã được các nhà khoa học tìm hiểu trước, giờ người học chỉ việc tái tạo lại.
Đe tái tạo lại, người học không có cách gì khác đó là phải huy động nội lực của bản thân (động cơ, ý chí,.) càng phát huy cao bao nhiêu thì việc tái tạo lại càng diễn ra tốt bấy nhiêu. Do đó hoạt động học làm thay đổi chính người học. Ai học thì người đó phát triển, không ai học thay thế được, người học cần phải có trách nhiệm với chính bản thân mình, vì mình trong quá trình học. Mặc dù hoạt động học có thể cũng có thể làm thay đổi khách thể.
Nhưng như thế không phải là mục đích tự thân của hoạt động học mà chính là phương tiện để đạt được mục đích làm thay đôi chính chủ thể của hoạt động. Hoạt động học là hoạt động tiếp thu những tri thức lý luận, khoa học. Nghĩa là việc học không chỉ dừng lại ở việc nắm bắt những khái niệm đời thường mà học phải tiến đến nhũng tri thức khoa học, những tri thức có tính chọn lựa cao, đã được khái quát hoá, hệ thống hoá. Hoạt động học tập không chỉ hướng vào việc tiếp thu những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mà còn hướng vào việc tiếp thu cả những tri thức của chính bản thân hoạt động học.
Hoạt động học muốn đạt kết quả cao, người học phải biết cách học, phương pháp học, nghĩa là phải có những tri thức về chính bản thân hoạt động học.