chương I, Pháp lệnh dân số thì khái niệm dân số được định nghĩa như SaU: “Đân số là tập hợp người sinh sống trong một quốc gia, khu vực, vùng địa lý kinh tế hoặc một đơn vị hành chính.” Dân số đô thị là bộ phận dân số sống trên lãnh thô được quy định là đô thị. Dân số đô thị luôn luôn biến động do các yêu tố sinh chết, di, đến. Do đó khi nói đến dân số đô thị cần phân biệt rõ dân số thường trú và dân số hiện có vào những thời điểm nhất định của đô thị. Đặc điểm dân số đô thị Mật độ dân số cao, và tăng ngày một nhanh là tiền đề hình thành đô thị đồng thời cũng là đặc điểm dân số đô thị.
Sở di mật độ dân số đô thị ở mức cao là do cả về gia tăng cơ học và gia tăng tự nhiên. Bên cạnh đó dé đáp ứng nhu cầu phát triển đô thị, đó là thị trường tiêu thụ sản phẩm rộn lớn nên đô thị là khu vực tập trung nhiều dân cư và thành phần dân số đa dạng. Sự phân tầng xã hội ở độ thị biểu hiện rõ rệt do dân số tập trung cao và có nhiều thành phan. Vì đô thị là trung tâm tổng hợp hoặc chuyên ngành, cùng với sự đa dạng về các hoạt động của đô thị, không những vậy, đô thị còn là đầu mối giao thông dẫn đến việc có nhiều sự giao lưu, di chuyên dân cư các khu vực khác ngoài đô thị mà mỗi cư dân trong đô thị đều có vai trò riêng của mình.
Mỗi một cư dân 15 đô thị đều nằm trong 2 khả năng, đóng vai trò là nguôn cung lao động, nguồn cầu sản phẩm hoặc cả hai dẫn đến việc mỗi cá nhân ứng với khả năng của mình sẽ có một địa vị trong xã hội. Khả năng của mỗi cá nhân là không giống nhau, vì thế sự phân tầng xã hội đô thị càng rõ nét. Dân số đô thị biến động do các yếu tố sinh, chết, đi, đến. Ngoài ra, Sự tăng dân sỐ đô thị còn bị ảnh hưởng bởi việc mở rộng diện tích hành chính.
Tuy nhiên, nó không làm thay đổi nhiều mật độ dân số từng vùng mà chỉ làm thay đổi về quy mô dân sô. Cơ sở của sự thay đổi là công nghiệp hóa sản xuất và nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng. Các hoạt động diễn ra trong đô thị là liên tục, ngoài ra còn có sự mở Tộng quan hệ với bên ngoài. Theo thời gian, diện tích đô thị có thể thay đôi dẫn đến sự gia tăng về dân số trong đô thị, bởi tỉ lệ tăng dân số tự nhiên và yêu cầu đòi hỏi về một đô thị mới đáp ứng nhu cầu phát triển của mình.
Đặc điểm quan trọng nhất của đô thị đó là cơ cau tuổi, giới tính của dân số đô thị do có sự liên quan mật thiết đến nhiều vấn đề dân số. Khi dân số của đô thị có độ tuổi dưới 30 chiếm đa số, thì được gọi là đô thị có dân sỐ trẻ. Bên cạnh đó, nó là vô cùng quan trọng vì cho biết đô thị trong tương lai gần sắp tới cần nhiều sản phẩm vật chất và dịch vụ hơn. Ngược lại, nó sẽ đòi hỏi các dịch vụ xã hội công cộng nhiều hơn khi dân số đô thị có tuổi đời cao chiếm đa số và khi đó, khả năng đáp ứng cho sự phát triển kinh tế xã hội của đô thị sẽ bị giảm sút, không những vậy kha năng sang tạo cũng kém di.
Đề giảm bớt khó khăn cho các hoạt động kinh tế và xã hội của một đô thị khi có sự chênh lệch cao về giới, một nhiệm vụ quan trọng trong công tác quản lý dân số đô thị đó chính là việc đảm bảo cân bằng về giới tính trong đô thị. Ngoài ra, để đảm bảo sự cân bằng về ngành nghề lao động trong sự phát triển đô thị đạt được cân đối, và đồng thời không lãng phí các lao động đã qua dao tạo có khả năng sử dụng thấp, thì đô thị đòi hỏi bao gồm nhiều lao động với các ngành nghề khác nhau. Lao động việc làm và thất nghiệp 1. Lao động việc làm Sức lao động là phạm trù chỉ khả năng lao động của con người, là tổng hợp thể lực, và trí lực của con người được con người sử dụng trong quá trình lao động.
Lao động là hoạt động có mục đích của con người, thông qua hoạt động đó con người tác động vào giới tự nhiên, cải biên chúng thành những vật có ích nhăm đáp ứng nhu câu nao đó của con người. Luc lượng lao động (hay còn gọi là dân số hoạt động kinh tế) bao gồm toàn bộ những người từ du 15 tuôi trở lên đang có việc làm hoặc đang tìm kiếm việc làm. Lực lượng lao động trong độ. tudi lao động (còn gọi là dân sô hoạt động kinh tế trong độ tuổi lao động) bao gồm những người trong độ tuôi lao động (nam từ 15- 60 tuổi, nữ từ 15-55 tuổi) đang có việc làm hoặc không có việc làm nhưng có nhu cầu tìm việc.
16 Dân số không hoạt động kinh tế bao gồm những người ngoài tuổi lao động và những, người trong độ tudi lao động nhưng trong khoảng thời gian xác định của cuộc điều tra không làm việc và không có nhu cầu tìm việc, như những người làm công việc nội trợ cho gia đình mình: học sinh, sinh viên; người mất kha năng lao động. Việc làm là hoạt động sản xuất cụ thé, tương đối 6n định trong hệ thống phân công lao động xã hội, mang lại thu nhập cho người lao động được pháp luật cho phép. Hình 1: Sơ đồ dân số và nguồn lao động | Tổng dân số ) Dân số trong độ Dân số ngoài độ tuôi lao động tuôi lao động động kinh tế [1 1 1 À1 Người Người Không làm Người sul Những có khả công : không có xi x we dang di nhu cầu người năng VIỆC NOL học ¬— khác lao trợ gia làm việc động đình l Nguồn lao động | Nguồn: Internet 1. Khai niém Theo ILO, “That nghiệp là tinh trang tồn tại khi một người trong độ tuổi lao động, muôn làm việc nhưng không thê tìm được việc làm ở mức lương thịnh hành.” Người thất nghiệp là những người từ đủ 15 tuôi trở lên, có nhu cầu làm việc nhưng không có việc làm trong tuân lễ điều tra, tính đến thời điểm điều tra có đi tìm việc trong vòng 4 tuần lễ qua hoặc không đi tìm việc trong 4 tuần lễ qua với các lý do chờ việc, nghỉ thời vụ, không biết tìm việc ở dau,.
hoặc trong tuần lễ trước điều tra có tông số giờ làm việc dưới 8 giờ, muốn làm thêm nhưng không tìm được việc. 17 Các chỉ tiêu đánh giá tình trạng việc làm: Tỉ lệ thất nghiệp chung được xác định băng cách chia số người thất nghiệp cho dân sô hoạt động kinh tê (hay còn gọi là lực lượng lao động). Tỉ lệ thất nghiệp theo độ tuổi hoặc nhóm tuổi được xác định bằng cách chia sỐ người thất nghiệp của một độ tudi hoặc nhóm tuổi nhất định cho toàn bộ dân số hoạt động kinh tế của độ tuổi hoặc nhóm tuổi đó. Lao động thiếu việc làm là những người mà trong tuân nghiên cứu được xác định là có việc làm nhưng có thời gian làm việc thực tê dưới 35 giờ, có nhu câu và sẵn sang làm thêm gio.
Tỉ lệ có việc làm được xác định băng cách chia sô người hiện có việc làm cho dân sô hoạt động kinh tê (hay còn gọi là lực lượng lao động). Tỉ lệ thiếu việc làm so với lực lượng lao động là tỉ lệ phần trăm lao động thiếu việc làm trong tông sô lực lượng lao động. Ở Việt Nam, thất nghiệp chỉ tính cho khu vực thành thị, còn thiếu việc làm thường tính cho lao động khu vực nông thôn. Các tỉ lệ về việc làm và thiếu việc làm thường được phân tổ theo giới tính; nhóm tudi; trình độ chuyên môn kĩ thuật; khoảng thời gian thiếu việc làm; ngành kinh tế; loại hình kinh tế; thành thi/néng thôn; tinh/thanh phó; vùng kinh tế xã hội.
Phân loại thất nghiệp Thất nghiệp tự nguyện gồm những người có khả năng được tuyển dụng nhưng họ chỉ làm khi có mức lương cao hơn mức lương bình quân phô biến của ngành nghề mà họ có năng lực trên thị trường lao động. Tihắt nghiệp không tự nguyện gồm những người làm việc với mức lương bình quân phô biên của ngành nghé mà họ có năng lực trên thị trường nhưng họ không được tuyên dụng. That nghiệp cơ cấu gồm những người không có việc làm khi tay nghề của họ không đáp ứng được nhu cầu của nhà tuyên dụng. Thất nghiệp tạm thời phát sinh do sự di chuyên không ngừng của con người từ khu vực này sang khu vực khác, công việc này sang công việc khác hoặc các giai đoạn khác nhau của cuộc sông.
That nghiệp chu kỳ gan liên với chu kỳ của nên kinh tê, nó bao gôm những người những người có nhu câu việc làm với mức lương hiện hành nhưng không tìm được việc do mức câu chung về lao động của nên kinh tê con thap. Thất nghiệp mùa vụ thường xảy ra với các công việc mang tính chất thời vụ như nghề thu lượm hoa trái, xây dựng. và thường dê dự báo trước. That nghiệp do thiếu cầu theo lý thuyết của Keynes, đó là thất nghiệp khi tong cầu giảm mà tiên lương và giá cả chưa kịp thay đôi đê, phục hôi mức toàn dụng lao động.
Ngay trong tình trạng được đánh giá là toàn dụng lao động thì vẫn luôn tồn tại một lượng thât nghiệp nhât định trong bât cứ nên kinh tê nào. Đó là mức thât nghiệp 18 tối thiêu phải chấp nhận, được gọi là tỉ lệ thất nghiệp tự nhiên. Tỉ lệ thất nghiệp tự nhiên tồn tại vì những nguyên nhân khách quan, như luôn ton tại một lực lượng lao động, thực sự không muôn làm việc và có những lao động chấp nhận thất nghiệp tạm thời dé tìm những công việc với mức lương cao hơn; nhiêu lao động không tự nâng cao trình độ bi dao thải; lao động đang chờ luân chuyên công việc. Trên thực tế nhóm thất nghiệp tự nhiên này cũng có những giá trị ở những phương diện khác nhau.
Họ có thé coi là lực lượng lao động dự trữ cho quốc gia khi cần phải sản xuất vượt tiềm năng, ở một khía cạnh khác lực lượng thất nghiệp tự nhiên nay cũng gop phan gia tăng mức cạnh tranh trong lực lượng lao động, tạo động lực dé những người đang có việc làm phải làm việc thật tốt dé không bị đào thải.