Chương 1: Tổng quan lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm về DVNHQT và HQHĐ của NHTM. - Chương 2: Thực trạng HQHĐ và DVNHQT của các NHTMVN. - Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. - Chương 4: Nghiên cứu tác động của DVNHQT đến HQHĐ của các NHTMVN.
- Chương 5: Giải pháp phát triển DVNHQT nhằm nâng cao HQHĐ của các NHTMVN. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Về mặt khoa học: + Luận án đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về DVNHQT và HQHĐ, tầm quan trọng của DVNHQT, mối liên hệ giữa DVNHQT và HQHĐ của NH trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cạnh tranh gay gắt trong lĩnh vực tài chính ngân hàng. + Luận án đã xác định được các chỉ tiêu phản ánh DVNHQT có tác động đến HQHĐ của các NHTMVN, từ đó xác định mô hình về sự tác động của DVNHQT đến HQHĐ của NH, đây là một điểm mới và không trùng lắp của đề tài. + Đây là nghiên cứu đầu tiên áp dụng phương pháp định lượng một cách có hệ thống thông qua phương pháp bao dữ liệu DEA, phương pháp hồi quy Pooled OLS, FEM, REM, FGLS và các kiểm định cần thiết như kiểm định F, kiểm định Hausman, kiểm định Breusch-Pagan Lagrangian, kiểm định Modified Wald, kiểm định Wooldridge nhằm nghiên cứu tác động của DVNHQT đến HQHĐ của các NHTMVN mà chưa có nghiên cứu nào trước đây thực hiện.
Về mặt thực tiễn: + Luận án đã định lượng được HQHĐ của các NHTMVN giai đoạn 2008- 2014, kết quả nghiên cứu này là một tham khảo mang tính khoa học giúp các nhà quản trị NH đánh giá được mức độ hoàn thành kế hoạch và mức độ tăng trưởng 7 HQHĐ của NH. Luận án đã phân tích các nhân tố tích cực, nhân tố tiêu cực thuộc DVNHQT ảnh hưởng đến HQHĐ của NH, từ đó đề xuất ra các giải pháp để phát huy nhân tố tích cực, kiểm soát nhân tố tiêu cực, không ngừng nâng cao HQHĐ và phát triển đa dạng các sản phẩm dịch vụ của NH đặc biệt là DVNHQT. + Ngoài ra, nghiên cứu là cơ sở khoa học để Chính phủ và Ngân hàng nhà nước (NHNN) xác định được các yếu tố tác động đến HQHĐ của các NHTMVN từ đó có thể đưa ra những chính sách kịp thời và hợp lý nhằm xây dựng hệ thống NH vững chắc, đảm bảo việc kinh doanh NH lành mạnh và hiệu quả. 8 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG QUỐC TẾ VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Chương 1 trình bày một số vấn đề chung về HQHĐ và DVNHQT của NHTM, vai trò của DVNHQT, mối quan hệ giữa DVNHQT và HQHĐ của NH.
Bên cạnh đó, tác giả đã tiến hành phân tích các kết quả nghiên cứu thực nghiệm về HQHĐ và DVNHQT tại một khu vực hay tại một quốc gia. Trên cơ sở tổng quan nền tảng lý thuyết và kết quả các nghiên cứu thực nghiệm, tác giả đã tìm ra khoảng trống từ đó định hướng vấn đề nghiên cứu. Dịch vụ ngân hàng quốc tế của NHTM 1. Khái niệm dịch vụ ngân hàng quốc tế NHTM là loại hình NH được thực hiện toàn bộ hoạt động NH và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của luật các tổ chức tín dụng (TCTD) nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Hoạt động NH là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản (Luật các TCTD do Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII thông qua ngày 29 tháng 06 năm 2010). Theo Rose (2004), các NH ngày nay đang mở rộng danh mục các dịch vụ mới cung cấp cho khách hàng (KH), các DVNH cung cấp cho KH ngày càng đa dạng. NH là một trong những lĩnh vực được mở cửa mạnh nhất sau khi Việt Nam gia nhập WTO, thách thức lớn nhất của ngành NH là đối mặt với sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt mạnh mẽ hơn. Để giành thế chủ động trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, hệ thống NH Việt Nam cần cải cách mạnh mẽ.
Vì vậy mỗi NH phải nhận thức được vấn đề phát triển các DVNH. DVNH được phân loại thành 2 mảng: DVNHQT và DVNH nội địa (Nguyễn Thị Cẩm Thủy, 2012). 9 DVNHQT bao gồm rất nhiều dịch vụ như thực hiện các phương thức thanh toán quốc tế, bảo lãnh vay trả nợ nước ngoài, tài trợ xuất nhập khẩu, tham gia thị trường hối đoái, tín dụng quốc tế … , là các hoạt động kinh doanh tiền tệ với phạm vi mở rộng khỏi biên giới quốc gia để hòa nhập, giao dịch với các NH khác trên thế giới (Lê Văn Tư, 2009). Theo Nguyễn Thị Cẩm Thủy (2012), DVNHQT bao gồm tất cả các dịch vụ tài chính do KH yêu cầu có liên quan đến thương mại quốc tế, đầu tư quốc tế, du lịch quốc tế…, hay nói cách khác, đó là việc NH thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư và cung ứng các dịch vụ tài chính ngân hàng trên thị trường quốc tế nhằm mục đích sinh lời.
Ngoài ra, một nghiên cứu khác còn định nghĩa một NH cung cấp DVNHQT nếu NH có hoạt động đầu tư vốn và hoạt động kinh doanh ở nước ngoài (Niepmann, 2011). Một định nghĩa khác về DVNHQT xuất phát từ quốc tịch của KH và của NH, nếu quốc tịch của KH và NH khác nhau thì NH đó được coi là NH cung cấp DVNHQT hoặc sử dụng loại tiền tệ trong giao dịch làm cơ sở phân loại DVNHQT với DVNH nội địa, một NH vẫn chỉ được coi là cung cấp DVNH nội địa nếu tiền gửi cho dù của KH nước ngoài gửi vào NH đó là đồng nội tệ (Đinh Thị Thanh Vân, 2010). Theo Trần Huy Hoàng và cộng sự (2006), một NH cung cấp DVNHQT là NH cung ứng các DVNH liên quan đến ngoại hối hoặc người không cư trú. Về phạm vi không gian, DVNHQT không chỉ diễn ra giữa các quốc gia với nhau mà còn diễn ra bên trong địa phận của mỗi nước, bất kể đồng tiền của quốc gia đó có được tự do chuyển đổi ra ngoại tệ khác hay không.
Ngày nay, trong xu thế hội nhập toàn cầu, biên giới quốc gia chỉ mang ý nghĩa tương đối, không đơn thuần là đường ranh định không phận, địa phận, hải phận giữa các nước với nhau (Lê Thành Lân, 2004). Ngay từ khi mới xuất hiện, ngành công nghiệp ngân hàng đã không ngừng nổ lực mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ sang các khu vực và quốc gia khác với các hình thức tổ chức như: văn phòng đại diện, ngân hàng đại lý, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng ở nước ngoài, ngân hàng con ở nước ngoài và được kiểm soát chặt chẽ bởi cả nước sở tại và nước cấp giấy phép hoạt động (Rose, 2004) … Ngoài 10 các DVNH dựa trên đồng nội tệ, các NHTM còn mở rộng các DVNHQT có liên quan đến đồng ngoại tệ (Lê Văn Tư, 2009). Dịch vụ ngân hàng thương mại Dịch vụ ngân hàng trong nước Dịch vụ ngân hàng quốc tế Thanh toán trong nước Thanh toán quốc tế Thẻ trong nước Thẻ quốc tế Bảo lãnh trong nước Bảo lãnh quốc tế Bao thanh toán trong nước Bao thanh toán quốc tế Huy động vốn trong nước Huy động vốn quốc tế Tín dụng trong nước Tài trợ xuất nhập khẩu Các nghiệp vụ đầu tư Kinh doanh ngoại hối Các dịch vụ khác Các dịch vụ khác Hình 1.1: Các dịch vụ ngân hàng của NHTM Nguồn: Nguyễn Thị Cẩm Thủy (2012) 11 Căn cứ vào Pháp lệnh ngoại hối năm 2005 và Pháp lệnh ngoại hối sửa đổi năm 2013, trên lãnh thổ Việt Nam, các giao dịch bằng ngoại hối hạn chế sử dụng trừ một số trường hợp được phép kể cả người cư trú và người không cư trú. Nghị định số 24/2012/NĐ-CP ngày 03/04/2012 của Chính phủ về quản lý hoạt động kinh doanh vàng và Thông tư số 16/2012/TT-NHNN ngày 25/5/2012 hướng dẫn một số điều của Nghị định 24/2012/NĐ-CP đã được ban hành với chủ trương chuyển quan hệ “huy động, cho vay vốn bằng vàng” sang quan hệ “mua, bán vàng” nên phạm vi nghiên cứu của luận án về các giao dịch ngoại hối tại NH là các giao dịch bằng ngoại tệ.
Trên cơ sở kế thừa các khái niệm về DVNHQT và các văn bản pháp lý tại Việt Nam, khái niệm DVNHQT được thống nhất sử dụng trong nghiên cứu này là các DVNH liên quan đến ngoại tệ do NH cung cấp. Vai trò của dịch vụ ngân hàng quốc tế NH là ngành cung ứng dịch vụ đặc biệt đối với dân cư và nền kinh tế. Trong điều kiện nền kinh tế mở, tự do hóa thương mại và tự do hóa tài chính, nhu cầu về các DVNHQT sẽ ngày càng phát triển theo hướng kết hợp hài hòa giữa lợi ích của KH với lợi ích của NH và mang lại lợi ích cho nền kinh tế. - Đối với nền kinh tế DVNHQT hỗ trợ mạnh mẽ cho kinh tế đối ngoại, một nền kinh tế với hệ thống NH có DVNHQT phát triển sẽ dễ dàng xâm nhập vào thị trường thế giới, thu hút vốn đầu tư, tạo sự lưu chuyển các dòng tài chính, tạo thu nhập cho nền kinh tế.
DVNHQT không chỉ góp phần huy động nguồn lực trong nước cho sự phát triển kinh tế mà còn huy động cả nguồn lực từ nước ngoài thông qua việc khuyến khích các nguồn kiều hối từ nước ngoài chuyển về và kinh doanh ngoại tệ. - Đối với NHTM Trước xu hướng mở cửa của nền kinh tế, hoạt động của các NH dần dần vượt khỏi biên giới quốc gia và mở rộng thị trường kinh doanh ra thị trường nước ngoài. DVNHQT trở thành yếu tố chính để các NH xác lập vị thế của mình, thu hút KH. Đây cũng chính là mảng hoạt động hấp dẫn với tỉ suất sinh lợi cao, có thị trường rộng lớn, góp phần đa dạng hóa hoạt động NH, tận dụng và khai thác mọi tiềm 12 năng của NH.
Việc phát triển DVNHQT sẽ tạo điều kiện nâng cao uy tín và thương hiệu của NH, giúp NH mở rộng thị phần hoạt động tín dụng và phi tín dụng, tăng lợi nhuận, giảm bớt rủi ro và tăng khả năng cạnh tranh cho mỗi NH. - Đối với khách hàng Thông qua các DVNHQT như thanh toán quốc tế, tài trợ xuất nhập khẩu, kinh doanh ngoại hối … sẽ đáp ứng nhu cầu về các dịch vụ NH của KH ngày càng tăng lên trong hoạt động thương mại quốc tế, đầu tư quốc tế và phòng ngừa rủi ro. Bên cạnh đó, KH sẽ dễ dàng mở rộng, thâm nhập thị trường nước ngoài, vị thế của KH được nâng cao trong giao dịch với đối tác. Các dịch vụ ngân hàng quốc tế của NHTM 1.