Tổng quan luận án

Sau khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), ngành ngân hàng đối mặt với áp lực cạnh tranh gia tăng từ các tập đoàn và ngân hàng nước ngoài có ưu thế về vốn, công nghệ, trình độ quản lý và năng lực cung ứng dịch vụ ngân hàng quốc tế. Trong bối cảnh đó, việc đánh giá hiệu quả hoạt động và phát triển mảng dịch vụ ngân hàng quốc tế trở thành yêu cầu thiết yếu đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam nhằm mở rộng thị phần, đa dạng hóa nguồn thu và tăng cường năng lực cạnh tranh.

Điểm qua các công trình nghiên cứu trước đây, các tác giả chủ yếu tập trung vào các nhân tố tác động chung đến hiệu quả hoạt động ngân hàng như tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tài sản, tỷ lệ vốn huy động trên tổng cho vay, quy mô vốn chủ sở hữu, quy mô tài sản, tăng trưởng kinh tế và lạm phát. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu và lượng hóa một cách có hệ thống tác động riêng biệt của dịch vụ ngân hàng quốc tế đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án gồm 4 nội dung:

  1. Nghiên cứu các chỉ tiêu đánh giá dịch vụ ngân hàng quốc tế của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam hiện nay.
  2. Nghiên cứu hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam bằng phương pháp phi tham số theo mô hình bao dữ liệu (DEA).
  3. Nghiên cứu tác động của dịch vụ ngân hàng quốc tế đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam.
  4. Gợi ý một số giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng quốc tế nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam.

Luận án tập trung giải quyết 2 câu hỏi nghiên cứu chính:

  1. Các chỉ tiêu nào đánh giá dịch vụ ngân hàng quốc tế của các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay?
  2. Dịch vụ ngân hàng quốc tế có tác động đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam hay không và mức độ tác động như thế nào?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Sự tác động của dịch vụ ngân hàng quốc tế đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam.
  • Phạm vi dữ liệu và không gian: Số liệu thu thập từ báo cáo thường niên và báo cáo tài chính đã kiểm toán của 38 ngân hàng thương mại Việt Nam (bao gồm ngân hàng thương mại nhà nước và ngân hàng thương mại cổ phần). Số lượng ngân hàng qua từng năm có sự biến động do quá trình sáp nhập, hợp nhất hoặc do ngân hàng không công bố báo cáo. Dữ liệu kinh tế vĩ mô (tăng trưởng kinh tế, lạm phát) được trích xuất từ Tổng cục Thống kê. Về nghiệp vụ, căn cứ theo Pháp lệnh ngoại hối năm 2005 (sửa đổi năm 2013), Nghị định 24/2012/NĐ-CP và Thông tư 16/2012/TT-NHNN, phạm vi nghiên cứu các giao dịch ngoại hối tại ngân hàng được xác định tập trung vào các giao dịch bằng ngoại tệ.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2008–2014, thời kỳ sau khi Việt Nam gia nhập WTO và các dữ liệu tài chính của ngân hàng được công bố tương đối đầy đủ.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu trong luận án được phân chia thành các nhóm hướng nghiên cứu chính:

Nhóm nghiên cứu về dịch vụ ngân hàng quốc tế:

  • Lê Thành Lân (2004) phân tích các giải pháp mở rộng dịch vụ ngân hàng quốc tế tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (Vietinbank) bằng các phương pháp thống kê, quy nạp và diễn dịch.
  • Trần Huy Hoàng và cộng sự (2006) hệ thống hóa lý luận, phân tích thực trạng, hạn chế và đề xuất giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng quốc tế cho các ngân hàng thương mại Việt Nam.
  • Nguyễn Thị Cẩm Thủy (2012) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển dịch vụ ngân hàng quốc tế trong điều kiện hội nhập và tham khảo kinh nghiệm quốc tế.
  • Tác giả nhận định các nghiên cứu chuyên sâu về dịch vụ ngân hàng quốc tế tại Việt Nam trước đây chủ yếu dừng lại ở phân tích định tính, mô tả thống kê mà chưa có kiểm định định lượng về mối quan hệ nhân quả với hiệu quả hoạt động.

Nhóm nghiên cứu quốc tế về hiệu quả hoạt động ngân hàng:

  • Tarawneh (2006), Zeitun (2012), Naceur (2003) sử dụng các chỉ số tài chính truyền thống (ROA, ROE) để đo lường hiệu quả sinh lời của các ngân hàng tại khu vực Trung Đông và Bắc Phi.
  • Claessens (2009) và Sufian (2011) nghiên cứu tác động của toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế đến hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại tại các thị trường mới nổi như Trung Quốc.
  • Gul và cộng sự (2011) nghiên cứu 15 ngân hàng lớn tại Pakistan giai đoạn 2005–2009 qua mô hình Pooled OLS, xác định vai trò của tổng tài sản, tiền gửi, dư nợ và biến vĩ mô (GDP, lạm phát).
  • Aremu và cộng sự (2013) tại Nigeria (1980–2010) và Ongore và cộng sự (2013) tại Kenya (2001–2010) xác định ảnh hưởng của các tỷ lệ vốn chủ sở hữu, tỷ lệ cho vay, nợ xấu và các chỉ số kinh tế vĩ mô đến hiệu quả ngân hàng.

Nhóm nghiên cứu trong nước ứng dụng phương pháp DEA và mô hình hồi quy:

  • Nguyễn Việt Hùng (2008) ứng dụng cả SFA, DEA và mô hình Tobit đánh giá 32 ngân hàng thương mại giai đoạn 2001–2005.
  • Ngô Đăng Thành (2010), Liễu Thu Trúc và Võ Thành Danh (2012), Nguyễn Minh Sáng (2012, 2014), Trương Quang Thịnh (2012), Lê Phan Thị Diệu Thảo và Nguyễn Thị Ngọc Quỳnh (2013), Trịnh Quốc Trung và Nguyễn Văn Sang (2013) đã phân tích hiệu quả kỹ thuật và các nhân tố tài chính tác động đến hiệu quả ngân hàng Việt Nam.
Tác giả Biến đầu vào Biến đầu ra
Ngô Đăng Thành (2010) Chi phí nhân viên, chi phí lãi, chi phí ngoài lãi Thu nhập lãi ròng, thu nhập ngoài lãi, tổng tài sản
Liễu Thu Trúc và Võ Thành Danh (2012) Chi phí nhân viên, chi phí khấu hao, chi trả lãi vay và các khoản tương tự, chi hoạt động khác Thu từ lãi, thu khác
Nguyễn Minh Sáng (2012) Tài sản cố định, tiền gửi, chi phí kinh doanh Thu từ lãi, thu khác
Trương Quang Thịnh (2012) Chi phí lãi, chi phí tiền lương, chi phí khác Tổng tài sản, thu từ lãi, thu khác
Lê Phan Thị Diệu Thảo và Nguyễn Thị Ngọc Quỳnh (2013) Chi phí kinh doanh, chi phí trả lãi và các khoản tương tự, chi phí khác Thu nhập từ lãi và các khoản tương tự, thu nhập khác từ hoạt động kinh doanh

Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn giải quyết: Luận án khắc phục hạn chế của các nghiên cứu trước bằng cách kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính (phỏng vấn chuyên gia xác định hệ thống chỉ tiêu dịch vụ ngân hàng quốc tế) và phương pháp định lượng đa tầng: đo lường hiệu quả qua mô hình DEA (hiệu quả kỹ thuật CRS, hiệu quả kỹ thuật thuần VRS, hiệu quả quy mô SE, chỉ số Malmquist) và ước lượng tác động của các chỉ tiêu dịch vụ ngân hàng quốc tế đến từng chỉ số hiệu quả bằng mô hình kinh tế lượng dữ liệu bảng (FGLS) có kiểm soát phương sai thay đổi và tự tương quan, kết hợp phân nhóm ngân hàng theo quy mô.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khái niệm

  • Dịch vụ ngân hàng quốc tế: Luận án tổng hợp lý thuyết từ Rose (2004), Lê Văn Tư (2009), Niepmann (2011), Đinh Thị Thanh Vân (2010), Nguyễn Thị Cẩm Thủy (2012), Trần Huy Hoàng và cộng sự (2006). Trên cơ sở các văn bản pháp lý hiện hành, luận án định nghĩa dịch vụ ngân hàng quốc tế là các dịch vụ ngân hàng liên quan đến ngoại tệ do ngân hàng thương mại cung cấp (kinh doanh ngoại tệ, thanh toán quốc tế, cho vay ngoại tệ, bảo lãnh quốc tế, bao thanh toán quốc tế, dịch vụ thẻ quốc tế và dịch vụ ngân hàng đại lý).
  • Hiệu quả hoạt động ngân hàng: Theo Nguyễn Khắc Minh (2004) và Ngô Đình Giao (1997), hiệu quả phản ánh mối quan hệ giữa các nguồn lực đầu vào được phân bổ và kết quả đầu ra đạt được.
  • Phương pháp chỉ số tài chính: Sử dụng ROA, ROE, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) và tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên (NNM) theo Rose (2004) và Trần Huy Hoàng (2011).
  • Phương pháp phân tích hiệu quả biên:
    • Tiếp cận tham số: Phân tích biên ngẫu nhiên (SFA) do Aigner và cộng sự (1977) khởi xướng ($Y_i = f(X_i, \beta) + \varepsilon_i$, với $\varepsilon_i = V_i - U_i$), TFA và DFA.
    • Tiếp cận phi tham số: Phân tích bao dữ liệu (DEA) do Farrell (1957), Charnes, Cooper, Rhodes (1978 - mô hình CRS) và Banker, Charnes, Cooper (1984 - mô hình VRS) phát triển. Mối quan hệ giữa các chỉ tiêu hiệu quả được xác định bởi công thức: $$\text{TE} = \text{PTE} \times \text{SE}$$ Trong đó TE là hiệu quả kỹ thuật (mô hình CRS), PTE là hiệu quả kỹ thuật thuần (mô hình VRS), và SE là hiệu quả quy mô. Mô hình phân loại tình trạng quy mô thành hiệu quả giảm theo quy mô (DRS), hiệu quả tăng theo quy mô (IRS) và hiệu quả không đổi theo quy mô (CONS).
    • Năng suất nhân tố tổng hợp: Ước lượng qua chỉ số Malmquist biến thiên gồm thay đổi hiệu quả kỹ thuật (effch), thay đổi công nghệ (techch), thay đổi hiệu quả kỹ thuật thuần (pech), thay đổi hiệu quả quy mô (sech) và thay đổi năng suất tổng hợp (tfpch).
    • Các cách tiếp cận xác định biến đầu vào – đầu ra: Tiếp cận sản xuất, tiếp cận trung gian và tiếp cận chi phí - doanh thu (Mlina, 2002).

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Luận án kết hợp phương pháp định tính và phương pháp định lượng:

  1. Nghiên cứu định tính: Phỏng vấn sâu trực tiếp các chuyên gia, cán bộ quản lý tại các ngân hàng thương mại nhằm điều chỉnh, xây dựng và lựa chọn các biến số đại diện cho dịch vụ ngân hàng quốc tế phù hợp với thực tiễn hệ thống ngân hàng Việt Nam.
  2. Nghiên cứu định lượng:
    • Đo lường hiệu quả hoạt động: Áp dụng phương pháp DEA định hướng đầu vào và chỉ số Malmquist thông qua phần mềm DEAP phiên bản 2.1 (Data Envelopment Analysis Program version 2.1).
    • Đánh giá tác động: Xây dựng các mô hình hồi quy dữ liệu bảng với các biến phụ thuộc là điểm số hiệu quả (TE, PTE, SE). Tác giả thực hiện ước lượng qua mô hình OLS gộp (Pooled OLS), mô hình tác động cố định (FEM), mô hình tác động ngẫu nhiên (REM), và sử dụng mô hình bình phương bé nhất tổng quát khả thi (FGLS) để khắc phục hiện tượng phương sai sai số thay đổi và tự tương quan.
    • Các kiểm định thống kê áp dụng: Kiểm định F, kiểm định Hausman, kiểm định Breusch-Pagan Lagrangian Multiplier, kiểm định Modified Wald (kiểm tra phương sai thay đổi) và kiểm định Wooldridge (kiểm tra tự tương quan). Phần mềm phân tích kinh tế lượng được sử dụng là Stata 11.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm về dịch vụ ngân hàng quốc tế và hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về ngân hàng thương mại, bản chất, vai trò và phân loại dịch vụ ngân hàng quốc tế (kinh doanh ngoại tệ, thanh toán quốc tế, cho vay ngoại tệ, thẻ quốc tế, ngân hàng đại lý). Chương này phân tích hai phương pháp đo lường hiệu quả hoạt động: phương pháp chỉ số tài chính (ROA, ROE, NIM, NNM) và phương pháp phân tích hiệu quả biên (tham số SFA, phi tham số DEA, chỉ số Malmquist). Đồng thời, tác giả tổng lược các công trình thực nghiệm trong nước và quốc tế, chỉ ra khoảng trống về việc thiếu vắng các nghiên cứu định lượng về tác động của dịch vụ ngân hàng quốc tế đến hiệu quả hoạt động ngân hàng tại Việt Nam.

Chương 2: Thực trạng hiệu quả hoạt động và dịch vụ ngân hàng quốc tế của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Chương 2 phân tích thực trạng hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2008–2014 qua các khía cạnh: mạng lưới hoạt động, năng lực tài chính (vốn điều lệ, quy mô tài sản, vốn chủ sở hữu), năng lực công nghệ (hệ thống phần mềm core banking), và cơ cấu nhân lực. Về kết quả kinh doanh, chương trình bày số liệu huy động vốn, cấp tín dụng, hoạt động thanh toán, diễn biến ROA, ROE, NIM. Đối với mảng dịch vụ ngân hàng quốc tế, chương khảo sát cơ sở pháp lý, tình hình kinh doanh ngoại tệ (giao ngay, kỳ hạn, hoán đổi, quyền chọn, tương lai), doanh số thanh toán quốc tế gắn với kim ngạch xuất nhập khẩu, dịch vụ bao thanh toán và sự phát triển mạng lưới ngân hàng đại lý cùng các chi nhánh/văn phòng đại diện ở nước ngoài.

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3 thiết kế quy trình nghiên cứu gồm hai bước định tính và định lượng. Kết quả nghiên cứu định tính (thảo luận chuyên gia) làm căn cứ lựa chọn các biến nghiên cứu. Trong phân tích định lượng, tác giả xác lập tập hợp các biến đầu vào - đầu ra cho mô hình DEA đo lường hiệu quả hoạt động, cũng như xây dựng các mô hình hồi quy đánh giá tác động của dịch vụ ngân hàng quốc tế đến hiệu quả kỹ thuật (HQKT/TE), hiệu quả kỹ thuật thuần (HQKTT/PTE) và hiệu quả quy mô (HQQM/SE). Chương này cũng phân loại 38 ngân hàng thành các nhóm quy mô tài sản và quy mô vốn chủ sở hữu, thiết lập hệ thống giả thuyết nghiên cứu và các bước kiểm định mô hình (F-test, Hausman, Modified Wald, Wooldridge, FGLS) bằng Stata 11.

Chương 4: Nghiên cứu tác động của dịch vụ ngân hàng quốc tế đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Chương 4 công bố kết quả ước lượng thực nghiệm:

  • Đo lường hiệu quả bằng DEA: Ước lượng điểm số hiệu quả kỹ thuật (DEACRS), hiệu quả kỹ thuật thuần (DEAVRS), hiệu quả quy mô (SE) giai đoạn 2008–2014; phân loại số lượng ngân hàng ở trạng thái hiệu quả giảm theo quy mô (DRS), tăng theo quy mô (IRS) và không đổi theo quy mô (CONS); phân tích các thành phần chỉ số Malmquist (effch, techch, pech, sech, tfpch).
  • Kết quả hồi quy thực nghiệm: Trình bày thống kê mô tả, ma trận hệ số tương quan, kiểm tra đa cộng tuyến. Tác giả tiến hành hồi quy trên toàn bộ mẫu và phân tách theo các nhóm ngân hàng đối với 3 biến phụ thuộc: HQKT, HQKTT, HQQM. Các kết quả kiểm định mô hình được tổng hợp để khẳng định tính phù hợp của phương pháp FGLS và kết luận về việc chấp nhận hay bác bỏ các giả thuyết nghiên cứu.

Chương 5: Giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng quốc tế nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Dựa trên kết quả định lượng tại Chương 4, Chương 5 đưa ra các định hướng và nhóm giải pháp thực tiễn cho ngân hàng thương mại: mở rộng dịch vụ huy động vốn ngoại tệ, hạn chế tín dụng ngoại tệ để giảm thiểu rủi ro, nâng cao chất lượng và đa dạng hóa các dịch vụ ngân hàng quốc tế (thanh toán quốc tế, bao thanh toán, bảo lãnh), đầu tư đổi mới công nghệ ngân hàng và đào tạo nguồn nhân lực chuyên môn cao. Đồng thời, tác giả đề xuất các kiến nghị vĩ mô đối với Ngân hàng Nhà nước và Chính phủ về phát triển thị trường ngoại tệ phái sinh và nâng cao hiệu quả điều hành tỷ giá. Chương kết thúc bằng việc chỉ ra các hạn chế của đề tài và định hướng nghiên cứu tiếp theo.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận và khoa học

  • Hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận về dịch vụ ngân hàng quốc tế và hiệu quả hoạt động ngân hàng thương mại trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
  • Xác định và chuẩn hóa hệ thống các chỉ tiêu phản ánh dịch vụ ngân hàng quốc tế tác động đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam thông qua kết hợp phương pháp định tính và định lượng.
  • Xây dựng mô hình định lượng hai giai đoạn có tính hệ thống: giai đoạn 1 sử dụng mô hình bao dữ liệu DEA và chỉ số Malmquist để đo lường đa chiều hiệu quả hoạt động (hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả kỹ thuật thuần, hiệu quả quy mô); giai đoạn 2 sử dụng mô hình hồi quy bảng FGLS kết hợp các kiểm định kiểm soát hiện tượng tự tương quan và phương sai thay đổi để ước lượng tác động của dịch vụ ngân hàng quốc tế.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Lượng hóa bức tranh hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2008–2014, phân định rõ mức độ đóng góp của hiệu quả quản lý nội tại (HQKTT) và việc lựa chọn quy mô hoạt động (HQQM).
  • Xác định mức độ và chiều hướng tác động (tích cực, tiêu cực) của từng biến số thuộc dịch vụ ngân hàng quốc tế đến từng khía cạnh hiệu quả kỹ thuật, kỹ thuật thuần và quy mô trên toàn hệ thống và theo từng nhóm ngân hàng phân theo quy mô.
  • Cung cấp cơ sở khoa học thực chứng hỗ trợ các nhà quản trị ngân hàng nhận diện các nhân tố rủi ro và lợi ích từ dịch vụ ngoại tệ, từ đó hoạch định chiến lược kinh doanh dịch vụ ngân hàng quốc tế phù hợp.
  • Cung cấp luận cứ thực nghiệm giúp Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước hoàn thiện khuôn khổ quản lý ngoại hối, chính sách tỷ giá và điều hành thị trường tiền tệ trong quá trình hội nhập.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Đối với các NHTM:
    • Mở rộng hoạt động huy động vốn ngoại tệ để tạo lập nguồn vốn ổn định.
    • Kiểm soát và hạn chế tăng trưởng tín dụng ngoại tệ nhằm phòng ngừa rủi ro tỷ giá và rủi ro tín dụng.
    • Nâng cao chất lượng và đa dạng hóa danh mục dịch vụ ngân hàng quốc tế (chuyển dịch từ các dịch vụ truyền thống sang các dịch vụ giá trị gia tăng như bao thanh toán quốc tế, thanh toán thẻ quốc tế).
    • Tăng cường đầu tư công nghệ ngân hàng hiện đại (core banking) và nâng cao chất lượng đội ngũ nhân sự chuyên trách nghiệp vụ quốc tế.
  • Đối với Ngân hàng Nhà nước và Chính phủ:
    • Phát triển thị trường ngoại tệ phái sinh tạo công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá cho ngân hàng và doanh nghiệp.
    • Hoàn thiện cơ chế điều hành tỷ giá linh hoạt, ổn định thị trường ngoại hối và tăng cường tính minh bạch của thông tin thị trường.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Theo trình bày của tác giả trong luận án:

  • Hạn chế về phương pháp DEA: Phương pháp bao dữ liệu đo lường hiệu quả tương đối trong tập hợp mẫu nghiên cứu, điểm số hiệu quả phụ thuộc vào các đơn vị trong mẫu; nếu thay đổi mẫu nghiên cứu thì điểm số hiệu quả biên tương đối có thể thay đổi.
  • Hạn chế về dữ liệu mẫu: Số lượng ngân hàng thương mại trong mẫu nghiên cứu có sự biến động qua các năm trong giai đoạn 2008–2014 do tác động của quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng (sáp nhập, hợp nhất) và một số ngân hàng chưa công bố đầy đủ báo cáo tài chính kiểm toán.
  • Phạm vi nghiệp vụ: Nghiên cứu giới hạn các dịch vụ ngân hàng quốc tế ở phạm vi các giao dịch liên quan đến ngoại tệ theo quy định quản lý ngoại hối hiện hành tại Việt Nam.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng khoảng thời gian nghiên cứu sau năm 2014 khi số liệu tài chính được cập nhật đầy đủ hơn sau giai đoạn tái cấu trúc hệ thống; mở rộng phân tích các dịch vụ tài chính quốc tế phức tạp và so sánh đối chiếu sâu hơn khi các ngân hàng thương mại Việt Nam gia tăng hiện diện thương mại tại thị trường nước ngoài.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo trong lĩnh vực Tài chính – Ngân hàng:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Cung cấp khung phương pháp luận kết hợp phân tích phi tham số DEA (phần mềm DEAP 2.1), tính toán chỉ số Malmquist và kỹ thuật ước lượng kinh tế lượng dữ liệu bảng FGLS (phần mềm Stata 11) có kiểm soát phương sai thay đổi và tự tương quan (Chương 3 và Chương 4).
  • Đối với nhà quản trị ngân hàng thương mại: Cung cấp bức tranh thực chứng về cơ cấu hiệu quả kỹ thuật, kỹ thuật thuần và quy mô của các ngân hàng Việt Nam, làm tài liệu tham khảo cho việc xây dựng chiến lược phát triển dịch vụ ngân hàng quốc tế và quản trị rủi ro ngoại hối (Chương 2, 4 và 5).
  • Đối với cơ quan quản lý (Ngân hàng Nhà nước, Chính phủ): Cung cấp các số liệu và phân tích thực tiễn phục vụ công tác giám sát an toàn hệ thống, điều hành chính sách ngoại hối và phát triển thị trường phái sinh (Chương 5).

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án sử dụng những phương pháp nào để đo lường hiệu quả hoạt động của ngân hàng?

Luận án sử dụng phương pháp phân tích phi tham số tiếp cận theo mô hình bao dữ liệu (DEA) với giả định hiệu quả không đổi theo quy mô (DEACRS) để đo lường hiệu quả kỹ thuật (TE), giả định hiệu quả thay đổi theo quy mô (DEAVRS) để đo lường hiệu quả kỹ thuật thuần (PTE) và hiệu quả quy mô (SE), cùng chỉ số Malmquist để đo lường sự thay đổi năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) qua phần mềm DEAP 2.1.

2. Mẫu dữ liệu và khung thời gian nghiên cứu của luận án được chọn như thế nào?

Luận án thu thập dữ liệu từ báo cáo tài chính đã kiểm toán và báo cáo thường niên của 38 ngân hàng thương mại Việt Nam (bao gồm ngân hàng thương mại nhà nước và ngân hàng thương mại cổ phần) trong giai đoạn 2008–2014. Số lượng ngân hàng khảo sát thực tế biến động qua các năm do hoạt động sáp nhập, hợp nhất hoặc tính sẵn có của báo cáo tài chính.

3. Tại sao luận án lựa chọn mô hình FGLS trong phân tích định lượng ở Chương 4?

Sau khi thực hiện các ước lượng Pooled OLS, FEM và REM, tác giả thực hiện các kiểm định Modified Wald và Wooldridge. Kết quả kiểm định cho thấy mô hình dữ liệu bảng xuất hiện hiện tượng phương sai sai số thay đổi và tự tương quan. Do đó, mô hình bình phương bé nhất tổng quát khả thi (FGLS) trên phần mềm Stata 11 được lựa chọn để khắc phục các hiện tượng này, đảm bảo tính vững của các ước lượng.

4. Dịch vụ ngân hàng quốc tế được định nghĩa và giới hạn như thế nào trong luận án?

Căn cứ vào Pháp lệnh ngoại hối năm 2005 (sửa đổi 2013) và Nghị định 24/2012/NĐ-CP, dịch vụ ngân hàng quốc tế trong luận án được thống nhất xác định là các dịch vụ ngân hàng liên quan đến ngoại tệ do ngân hàng thương mại cung cấp, bao gồm kinh doanh ngoại tệ, thanh toán quốc tế, cho vay ngoại tệ, bao thanh toán quốc tế, bảo lãnh quốc tế, thẻ quốc tế và dịch vụ ngân hàng đại lý.

5. Các biến phụ thuộc nào được sử dụng trong các mô hình hồi quy đánh giá tác động của dịch vụ ngân hàng quốc tế?

Luận án thiết lập 3 biến phụ thuộc tương ứng với 3 mô hình hồi quy: Hiệu quả kỹ thuật (HQKT/TE), Hiệu quả kỹ thuật thuần (HQKTT/PTE) và Hiệu quả quy mô (HQQM/SE) được tính toán từ mô hình DEA ở giai đoạn trước.

Kết luận

Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Huỳnh Thị Hương Thảo đã giải quyết vấn đề đánh giá tác động của dịch vụ ngân hàng quốc tế đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2008–2014. Bằng việc kết hợp nghiên cứu định tính và phương pháp định lượng qua mô hình bao dữ liệu DEA và hồi quy FGLS, luận án đã lượng hóa hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả kỹ thuật thuần và hiệu quả quy mô của hệ thống ngân hàng thương mại, đồng thời làm rõ sự tác động của các chỉ tiêu dịch vụ ngoại tệ đến các khía cạnh hiệu quả này. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn phục vụ công tác quản trị tại các ngân hàng thương mại và hoạch định chính sách tiền tệ, ngoại hối của cơ quan quản lý nhà nước.