Chương I LY LUAN CO BAN VE QUAN TRI RUI RO TiN DUNG TẠI NGÂN HANG THƯƠNG MẠI 1. Các khái niệm cơ bản “Theo định nghĩa tại điều 4 - luật các TCTD số 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010: Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng nhằm mục tiêu lợi nhuận. Hoạt động ngân hàng thương mại là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: ~ Nhận tiền gửi (huy động vốn); ~ Cấp tín dụng; ~ Cung ứng dich vụ thanh toán qua tài khoản 1. Khái niệm về cấp tín dụng ngân hàng ‘Theo dinh nghĩa tại điều 4 - luật các TCTD số 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010: Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác Hiện tại, cấp tín dụng qua nghiệp vụ cho vay là chủ yếu.
Cho vay là hình thức cấp tín, dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Khái niệm về rủi ro Trường phái tiêu cực: rủi ro được coi là sự không may mắn, sự tốn thất, mắt mát, nguy hiểm. - Rủi ro là khả năng xảy ra nguy co/diéu phién toai hay mắt mát ~ Rui ro (đồng nghĩa với rủi) là sy khong may. - Rui ro là điều không tốt, bất ngờ xảy đến - Rủi ro là những bắt trắc ngoài ý muốn xảy ra trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tác động xấu đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Tóm lại, theo cách hiểu hay quan điểm truyền thống thì “rủi ro là những mắt mát“thiệt hại, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người”.
“Trường phái trung hòa ~ Rủi ro là sự bất trắc có thể liên quan đến việc xuất hiện những biến cố không mong đợi. ~ Rủi ro là sự bắt trắc có thé đo lường được. ~ Rủi ro là giá trị và kết quả hiện thời chưa biết đến. Khái niệm về rủi ro tín dụng ngân hàng Theo khoản 1 - điều 3 - thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chỉ nhánh ngân hàng nước ngoài.
Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng. được định nghĩa là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chỉ nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết Chúng ta cần hiểu rủi ro tín dụng theo nghĩa xác suất, là khả năng, do đó có thể xảy ra hoặc không xảy ra tôn thất. Điều này có nghĩa là một khoản vay dù chưa quá hạn nhưng vẫn luôn tiềm ẩn nguy cơ xảy ra tồn thất, một ngân hàng có tỷ lệ nợ quá hạn thấp nhưng nguy co rủi ro tín dụng sẽ rất cao nếu danh mục đầu tư tín dụng tập trung vào một nhóm khách hàng, ngành hàng tiềm ấn nhiễu rủi ro. Cách hiểu này sẽ giúp cho hoạt động quản trị rủi ro tín dụng được chủ động trong phòng ngừa, trích lập.
dự phòng đảm bao chống đỡ và bù đắp tốn thất khi rủi ro xảy ra. Khái niệm về quản trị ri ro tín dụng Về bản chất có thể hiểu quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại có thể hiểu là quá trình tác động có tổ chức, có hướng đích của các nhà quản lý ngân hàng lên các đối tượng quản lý nhằm mục tiêu phòng ngừa, hạn chế và giảm thiểu các rủi ro trong kinh doanh từ đó nâng cao mức độ an toản, khả năng sinh lời và đạt được các mục tiêu tăng trưởng trong ngắn hạn và dài hạn của mỗi NHTM. Đổi với rủi ro tín dụng Ngân hàng, đầu tiên phải coi đó là một hiện tượng có thể xây ra ngoài mong muốn của ngân hàng khi thực hiện cho vay đối với khách hàng, Với quan niệm như vậy, mỗi khi bắt đầu xem xét một khoản cấp tín dụng, ngân hàng cần lường trước những rủi ro có thể xảy ra. Đây cũng chính là xuất phát điểm hình thành nên Ý tưởng quản trị rủi ro tin dụng của NHTM.
Mặc dù rủi ro tín dụng là một hiện tượng tiềm ấn và không phải bao giờ cũng xảy ra khi ngân hàng cung cấp một khoản tin dụng nhưng trong nhiều trường hợp do tính lặp lại của rủi ro nên người ta có thể nhận biết được quy luật của nó. Chính vì điều này mà ngân hàng có thể tìm ra được những biện pháp quản lý nhằm hạn chế khả năng xảy ra rủi ro tín dụng và giảm thiểu tôn thất do rủi ro tín dụng gây ra Quản trị rủi ro tín dụng là một trong những nội dung quản lý của NHTM bao gồm: Giám sát, rà soát để nhận biết và đo lường mức độ rủi ro; Thực thi các biện pháp kiểm soát và Giảm thiểu tổn thất khi rủi ro tín dụng xảy ra. Phân loại rủi ro tín dụng của các ngân hàng. Biểu hiện rủi ro tin dung Rui ro trong hoạt động tín dụng tại các ngân hàng thương mại được biểu hiện dưới dạng: Nợ quá hạn, nợ xấu, tỷ lệ nợ mất vốn, tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng, mức độ tập trung tín dụng.
dẫn đến việc Ngân hàng Không thu được hoặc không thu đủ nợ gốc hoặc lãi. 'VỀ nguyên tắc, toàn bộ dư nợ của một khách hàng tại các tỗ chức tín dụng (TCTD) được phân vào củng một nhóm nợ có mức độ rủi ro cao nhất. Nợ quá hạn Là khoản nợ khách hàng không trả được đúng hạn theo thỏa thuận tại Hợp đồng, cấp tín dụng và không được tổ chức tín dụng chấp thuận cơ cấu lại thời hạn trả nợ. Đó là loại rủi ro tín dụng nhưng ở mức rủi ro cơ bản thấp, có nhiều khả năng thu hồi.
Tổng dư nợ quá hạn Tỷ lệ nợ quá hạn x 100% Tong dur ng Tỷ lệ nợ quá hạn càng cao thì mức độ rủi ro tin dụng của ngân hàng càng lớn (các khoản nợ có thời gian quá hạn trên 90 ngày sẽ chuyển thành nợ xấu, đối tượng này được nghiên cứu riêng). Nợ quá hạn vì nhiều lý do khác nhau như hàng hoá sản xuất ra nhưng tiêu thụ chậm, hàng tồn kho lâu ngày với khối lượng lớn, hàng đã bán ra nhưng chưa thu được n. do đó chưa trả nợ đúng hạn cho ngân hàng. Đây là loại rủi ro tín dụng thường gặp và hầu hết các Ngân hàng đều có nợ quá hạn.
Nợ xấu: Theo khoản 8 - điều 3 - Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tin dụng, chỉ nhánh ngân hàng nước ngoài. Nợ xấu là nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5, cụ thể xét theo tuổi nợ (hay phân loại theo phương pháp định lượng): ~ Nợ Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày; Nợ gia hạn nợ lần đầu; Nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng; Các khoản nợ khác được phân vào nhóm 3 theo quy định ~ Nợ Nhóm 4 (Nợ nghỉ ngờ) bao gồm: Nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày; Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai; Các khoản nợ khác được phân vào nhóm 4 theo quy định ~ Nợ Nhóm 5 (Nợ có khả năng mắt vốn) bao gồm: Nợ quá hạn trên 360 ngày; Nợ. cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ. được cơ cấu lại lần thứ hai; Nợ cơ cầu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn; Các khoản nợ khác được phân vào nhóm Š theo quy định.
Dư nợ xấu: š Tổng dư nợ xấu Tỷ lệ nợ xấu “———— xI% Tổng dư nợ Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là chỉ tiêu để đánh giá chất lượng tín dụng của tổ chức tín dụng. Nếu tỷ lệ này cao thì rủi ro tín dụng cao vì đây là những khách hàng có dấu hiệu khó khăn vẻ tài chính, khó trả nợ cho Ngân hàng. Để đám bảo an toàn cho hệ thống, Ngân hàng nhà nước Việt Nam cũng đang quyết liệt thực hiện các giải pháp xử lý nợ xấu, nỗ lực phấn đấu đến năm 2020 đưa tỷ lệ nợ xấu sôp (nội bảng, ngoại bảng, nợ bán VAMC, nợ xấu khác.) tại các TCTD xuống dưới 3%. Tỷ lệ nợ mắt vốn: Dư nợ có 5.5 khả năng mắt vốn.
Tỷ lệ mắt vốn = — xI0% Tong dung Đối với một Ngân hàng, tỷ lệ mắt vốn càng cao thì rủi ro mắt vốn của Ngân hàng. cảng lớn, nó phản ánh khả năng bị tổn thất mắt gốc và phải dùng quỹ dự phòng để bù đắp. Tỷ lệ này cảng tăng cao thì áp lực tài chính do trích lập dự phòng rủi ro của ngân hàng ngày càng lớn. Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng: Số dự phòng Tỷ lệ trích lập dự - rủi ro trích lập.
phòng rủi ro - - x 100% Tổng dư nợ Tỷ lệ này cảng cao chứng tỏ rủi ro tín dụng cảng cao vì dự phòng rủi ro phải trích lập nhiều sẽ tăng chi phí cho Ngân hàng dẫn đến giảm lợi nhuận, nếu mức độ lớn có thể làm cho Ngân hàng bị thua lỗ Mức độ tập trung tín dụng: Mức độ tập trung tín dung là tỷ trong cấp tín dụng được phân theo Ngành nghề, lĩnh vực (như Ngành Than, Điện, lĩnh vực Bắt động sản.