chương 1 tác giả đã trình bày về lí do chọn đề tài, mục tiêu đề tài, câu hỏi nghiên cứu đối tượng phạm vi nghiên cứu và các phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng trong bài luận văn để xác định các yếu ảnh hưởng đến tăng trưởng tín dụng của các Ngân hàng TMCP tại Việt Nam. Tác giả đã tiến hành thu thập dữ liệu của 28 Ngân hàng TMCP tại Việt Nam dưới dạng dữ liệu bảng không cân bằng trong giai đoạn từ 2010-2019. Phương pháp nghiên cứu kết hợp định tính và định lượng bằng mô hình hồi quy với số liệu được xử lí bằng phần mêm Stata 15.1 9 CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM Trong chương này tác giả sẽ trình bày sơ lược các khái niệm về ngân hàng thương mại tăng trưởng tín dụng và các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng tín dụng. Xem xét dựa trên các cơ sở lý thuyết về các yếu tố đại diện cho biến độc lập và biến phụ thuộc là tăng trưởng tín dụng trong NHTM, các yếu tố đại diện cho biến độc lập này sẽ tác động như thế nào đến tăng trưởng tín dụng của các Ngân hàng TMCP tại Việt Nam.
Ngoài ra tác giả còn tóm tắt sơ lược các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước trước đó về tác động của các yếu tố đến tăng trưởng tín dụng. Tổng quan về ngân hàng thƣơng mại 2. Khái niệm ngân hàng thƣơng mại. NHTM là một định chế tài chính được phép nhận tiền gửi và cho vay dưới nhiều hình thức và điều kiện khác nhau.
Ngân hàng thương mại đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế là cầu nối giữa các chủ thể kinh tế với nhau. Theo Luật các tổ chức Tín dụng Việt Nam khoản 3 điều 4 Luật các TCTD: ―Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận ‖. Nghiệp vụ kinh doanh của NHTM rất phong phú và đa dạng cùng với sự phát triển của khách hàng hoạt động kinh doanh của NHTM dựa trên lĩnh vực tiền tệ tín dụng cung cấp một số dịch vụ cho khách hàng và nhận tiền gửi của khách hàng với các hình thức khác nhau. Với sự phát triển của kinh tế và xã hội hoạt động của NHTM cũng có nhiều phương pháp mới nhưng các nghiệp vụ kinh doanh về cơ bản không thay đổi là nhận tiền gửi và hoạt động cho vay đầu tư.
Sự có mặt của 10 NHTM trong hầu hết các hoạt động của nền kinh tế xã hội cho thấy rằng: tốc độ phát triển của ngân hàng luôn gắn liến với sự phát triển của nền kinh tế và xã hội. Các loại hình ngân hàng thƣơng mại Ngân hàng thương mại có nhiều loại tùy theo tiêu chí phân chia, nếu căn cứ vào tiêu chí sở hữu và góp vốn thì NHTM bao gồm 3 loại chính như sau: - Ngân hàng thương mại nhà nước: là NHTM thuộc sở hữu nhà nước được thành lập bằng 100% vốn của ngân sách nhà nước cấp - Ngân hàng thương mại cổ phần: là ngân hàng được thành lập theo mô hình một công ty cổ phần, vốn điều lệ ban đầu là do các cổ đông sáng lập đóng góp. Trong quá trình hoạt động, các NHTM phát hành thêm cổ phiếu để nhằm tăng vốn dựa trên chiến lược hoạt động của ngân hàng có sự thông qua của các cổ đông hiện hữu. Ngân hàng thương mại cổ phần là một trong những loại hình ngân hàng phổ biến ở các nước trên thế giới hiện nay bởi tính ưu việt của mô hình tổ chức như khả năng mở rộng quy mô vốn hay tính minh bạch và cơ chế giám sát trong ngân hàng.
- Ngân hàng thương mại nước ngoài: là ngân hàng được thành lập ở nước ngoài theo quy định của pháp luật nước ngoài. Ngân hàng thương mại nước ngoài được hiện diện thương mại ở nước sở tại dưới hình thức văn phòng đại diện; Ngân hàng liên doanh; chi nhánh NHTM nước ngoài hay NHTM 100% vốn nước ngoài. Tổng quan về tín dụng ngân hàng Theo Luật các tổ chức tín dụng 2010 tại khoản 16 điều 4: ―Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi ‖. Như vậy tín dụng là quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc hoàn trả có kèm theo lợi tức thoả mãn nhu cầu của cả hai bên dựa trên nguyên tắc bình đẳng cả hai bên cùng có lợi và mang tính thỏa thuận lớn.
11 Tín dụng là loại tài sản chiếm tỷ trọng lớn nhất ở phần lớn các ngân hàng thương mại phản ánh hoạt động đặc trưng của ngân hàng ( Phan Thị Thu Hà 2009) Trong nền kinh tế thị trường hiện nay có rất nhiều loại hình tín dụng trong đó bao gồm: tín dụng thương mại tín dụng nhà nước tín dụng ngân hàng và các hình thức tín dụng kết hợp khác. Tuy nhiên tín dụng ngân hàng với các đặc trưng riêng vẫn được coi là hình thức tín dụng cơ bản và giữ vai trò quan trọng nhất trong hệ thống tín dụng. Theo Luật các tổ chức tín dụng 2010 khoản 14, Điều 4 cấp tín dụng được định nghĩa như sau: ―Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác‖. Tín dụng ngân hàng là việc ngân hàng chấp nhận để khách hàng sử dụng một lượng tài sản bằng tiền tài sản thực hay uy tín trên cơ sở tin tưởng khách hàng có khả năng hoàn trả nợ gốc và lãi khi đáo hạn ( Nguyễn Văn Tiến 2013) Từ những nội dung trình bày ở trên theo quan điểm của tác giả tín dụng ngân hàng được hiểu như sau: Tín dụng ngân hàng là giao dịch ngân hàng với khách hàng trong đó ngân hàng (bên cho vay) sẽ chuyển nhượng cho khách hàng ( bên vay) quyền sử dụng một lượng giá trị (dưới hình thức hàng hoá hoặc tiền tệ) kèm theo điều kiện nhất định và trong một thời gian quy định mà hai bên đã thoả thuận dựa trên nguyên tắc có hoàn trả một lượng giá trị cao hơn ban đầu.
Đặc điểm chủ yếu của tín dụng ngân hàng - Tín dụng ngân hàng dựa trên cơ sở lòng tin là sự chuyển nhượng một tài sản có thời hạn. - Tín dụng phải trên nguyên tắc hoàn trả vô điều kiện. 12 - Tín dụng là hoạt động tiềm ẩn rủi ro cao cho ngân hàng cho vay có mục đích bảo đảm theo quy định. Phân loại tín dụng ngân hàng - Phân loại theo thời hạn cấp tín dụng: bao gồm tín dụng ngắn trung dài hạn - Phân loại theo tiền tệ được sử dụng: Tín dụng bằng nội tệ ngoại tệ - Phân loại theo phương thức cho vay: Cho vay theo hạn mức tín dụng cho vay từng lần cho vay theo hạn mức thấu chi cho vay hợp vốn cho vay lưu vụ cho vay theo hạn mức cho vay dự phòng cho vay quay vòng cho vay tuần hoàn - Phân loại theo đối tượng khách hàng: Khách hàng pháp nhân thể nhân - Phân loại theo hình thức cấp tín dụng: Nghiệp vụ cho vay chiết khấu chứng từ có giá bảo lãnh ngân hàng bao thanh toán nghiệp vụ cho thuê tài chính phát hành trái phiếu doanh nghiệp 2.
Vai trò của tín dụng ngân hàng - Tín dụng ngân hàng thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hoá tiền tệ phát triển góp phần đẩy nhanh quá trình tái sản xuất mở rộng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Thông qua chức năng phân phối lại vốn tiền tệ theo nguyên tắc hoàn trả các nguồn vốn và vật tư được đưa vào luân chuyển và được sử dụng hợp lý trong sản xuất. Tín dụng ngân hàng góp phần thỏa mãn các nhu cầu vốn tiền tệ tạm thời của doanh nghiệp đảm bảo tính liên tục của quá trình sản xuất cũng như mở rộng sản xuất. Đồng thời tín dụng ngân hàng có vai trò quan trọng trong việc tạo ra cơ cấu tối ưu trong phát triển kinh tế là phương tiện để Nhà nước cung ứng tiền cho nền kinh tế phù hợp với sự phát triển kinh tế.
- Tín dụng ngân hàng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Nhờ nguồn vốn vay của ngân hàng mà doanh nghiệp có thể khắc phục khi gặp khó khăn trong kinh doanh hoặc doanh nghiệp có nguồn vốn để mở rộng quy mô sản xuất đầu tư đổi mới công nghệ…giúp doanh nghiệp ngày càng phát triển. - Tín dụng ngân hàng góp phần mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế. Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế toàn cầu vay nợ nước ngoài trở thành một nhu cầu 13 khách quan đối với tất cả các nước trên thế giới nó lại càng tỏ ra bức thiết đối với các nước đang phát triển như Việt Nam.
Nhờ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của các nước đang phát triển và nâng cao mức sống vật chất của nhân dân. Tổng quan về tăng trƣởng tín dụng Theo Nguyễn Văn Tiến (2013) tăng trưởng tín dụng là một yếu tố quan trọng trong hoạt động cấp tín dụng hay cụ thể hơn là hoạt động cho vay tăng trưởng tín dụng được hiểu là việc các ngân hàng sử dụng các biện pháp gia tăng vốn huy động từ đó đáp ứng cho nhu cầu cấp tín dụng cho các đối tượng khác nhau trong nền kinh tế từng bước nâng cao lợi nhuận thị phần và thương hiệu ngân hàng trên thị trường. Theo Richard Duncan (2011) cho rằng điều quan trọng nhất để hiểu về nền kinh tế trong thời đại trọng tiền ngày nay là tăng trưởng tín dụng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Theo Võ thị Quý và Bùi Ngọc Toản (2014) tăng trưởng tín dụng là sự gia tăng giá trị của khoản cho vay qua các năm.
Như vậy tăng trưởng tín dụng là việc các ngân hàng thương mại sử dụng các chính sách nguồn lực của mình để gia tăng nguồn vốn huy động mở rộng các hoạt động cấp tín dụng của mình. Việc mở rộng tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng thương mại sẽ giúp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh cũng như gia tăng lợi nhuận nâng cao thương hiệu và thị phần trên thị trường. Tóm lại tăng trưởng tín dụng chỉ sự gia tăng của tổng giá trị các khoản cấp tín dụng năm hiện hành so với năm trước đó.