phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề chung về rủi ro tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng của Ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý rủi ro tín dung tại Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Việt Nam Thịnh Vƣợng - Chi nhánh tỉnh Nam Định thời gian qua. Chƣơng 3: Một số giải pháp tăng cƣờng quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thƣơng mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vƣợng - Chi nhánh tỉnh Nam Định thời gian tới. 8 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm Cho vay hay còn gọi là tín dụng, là việc một bên (bên cho vay) cung cấp nguồn tài chính cho đối tƣợng khác (bên đi vay) trong đó bên đi vay sẽ hoàn trả tài chính cho bên cho vay trong một thời hạn thỏa thuận và thƣờng kèm theo lãi suất. Do hoạt động này làm phát sinh một khoản nợ nên bên cho vay còn đƣợc gọi là chủ nợ, bên đi vay gọi là con nợ. Do đó, tín dụng phản ánh mối quan hệ giữa hai bên: Một bên là ngƣời cho vay và một bên là ngƣời đi vay.
Quan hệ giữa hai bên ràng buộc bởi cơ chế tín dụng, thỏa thuận thời gian cho vay, lãi suất phải trả,. Tín dụng xuất phát từ chữ La tinh "Creditium" có nghĩa là tin tƣởng, tín nhiệm. Tiếng Anh gọi là Credit. Theo ngôn ngữ dân gian Việt Nam là sự vay mƣợn.
Tín dụng là quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa ngƣời cho vay và ngƣời đi vay dựa trên nguyên tắc hoàn trả. Tín dụng là biểu hiện mối quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tín dụng nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu vốn tạm thời cho quá trình tái sản xuất và đời sống, theo nguyên tắc hoàn trả. Có nhiều hình thức tín dụng nhƣ: tín dụng thƣơng mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng nhà nƣớc, tín dụng tiêu dùng… Trong đó, tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng phổ biến có vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Đồng thời, nó cũng giữ vị trí chủ chốt trong hoạt động của mỗi ngân hàng.
Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhƣợng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời gian nhất định với một khoản chi phí nhất định. Nhƣ vậy, Cấp tín dụng của ngân hàng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá 9 nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh Ngân hàng và các nghiệp vụ khác. Hoạt động tín dụng là hoạt động mang lại nhiều lợi nhuận cho ngân hàng nhƣng cũng là hoạt động chứa nhiều rủi ro nhất. Vì vậy, tín dụng ngân hàng phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc cơ bản.
Phân loại tín dụng Tùy theo tiêu chí phân loại, tín dụng đƣợc phân loại nhƣ sau: - Căn cứ vào mục đích vay vốn: Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng, tín dụng gồm các loại sau: + Tín dụng bất động sản: là các khoản tín dụng đầu tƣ vào bất động sản, bao gồm: tín dụng ngắn hạn cho xây dựng nhỏ và sửa chữa nhà cửa và tín dụng dài hạn để mua đất đai, nhà cửa, cơ sở dịch vụ, trang trại. + Tín dụng công thƣơng nghiệp: là các khoản tín dụng cấp cho các doanh nghiệp để trang trải các chi phí nhƣ mua hàng hóa, nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, trả thuế và chi trả lƣơng. + Tín dụng nông nghiệp: là các khoản tín dụng cấp cho các hoạt động nông nghiệp, nhằm trợ giúp các hoạt động trồng trọt, thu hoạch mùa màng và chăn nuôi. + Tín dụng tiêu dùng: là các khoản tín dụng cấp cho cá nhân, hộ gia đình để mua sắm hàng hóa tiêu dùng đắt tiền nhƣ xe cộ, trang thiết bị trong nhà, cho vay du học… + Tín dụng đầu tƣ tài chính: là các khoản tín dụng cấp cho các cá nhân doanh nghiệp mua chứng khoán, vàng.
- Theo phƣơng thức cho vay, dựa trên cơ sở nhu cầu sử dụng của từng khoản vốn vay của khách hàng và khả năng kiểm tra, giám sát việc khách hàng 10 sử dụng vốn vay của tổ chức tín dụng, có các phƣơng thức cho vay sau đây: + Cho vay từng lần: Mỗi lần vay vốn khách hàng và tổ chức tín dụng làm thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng. + Cho vay theo hạn mức tín dụng: Tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong thời hạn nhất định hoặc theo chu kỳ sản xuất, kinh doanh. + Cho vay theo dự án đầu tƣ: Tổ chức tín dụng cho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu tƣ phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tƣ phục vụ đời sống. + Cho vay hợp vốn: Một nhóm tổ chức tín dụng cùng cho vay đối với một dự án vay vốn hoặc phƣơng án vay vốn của khách hàng; trong đó, có một tổ chức tín dụng làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các tổ chức tín dụng khác.
Việc cho vay hợp vốn thực hiện theo quy định của quy chế này và quy chế đồng tài trợ của các tổ chức tín dụng do Thống đốc NHNN ban hành. + Cho vay trả góp: Khi vay vốn, tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và thoả thuận số lãi tiền vay phải trả cộng với số nợ gốc đƣợc chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay. + Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: Tổ chức tín dụng cam kết đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định. Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng dự phòng, mức phí trả cho hạn mức tín dụng dự phòng.
+ Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: Tổ chức tín dụng chấp thuận cho khách hàng đƣợc sử dụng số vốn vay trong phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của tổ chức tín dụng. Khi cho vay phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, tổ chức tín dụng và khách hàng phải tuân theo các quy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà 11 nƣớc về phát hành và sử dụng thẻ tín dụng. + Các phƣơng thức cho vay khác phù hợp với quy định của Quy chế này và các quy định khác của Ngân hàng Nhà nƣớc - Theo thời hạn tín dụng, theo thời gian tín dụng thì tín dụng đƣợc chia làm ba loại: + Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ dƣới 12 tháng trở xuống, thƣờng đƣợc cho vay bổ sung thiếu hụt tạm thời về vốn lƣu động của các doanh nghiệp, cá nhân .và cho vay phục vụ nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng của cá nhân, hộ gia đình. + Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm.
Loại tín dụng này để cho vay vốn phục vụ nhu cầu mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng và sử dụng các công trình nhỏ có thời gian thu hồi vốn nhanh. + Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm. Loại tín dụng này dùng để cung cấp vốn cho xây dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn. Tín dụng dài hạn có giá trị lớn có thời gian thu hồi vốn dài.
- Căn cứ vào sự đảm bảo hoàn trả nợ có hai loại tín dụng: + Tín dụng không có bảo đảm là hình thức tín dụng mà việc cho vay vốn dựa trên uy tín của ngƣời vay để đảm bảo việc hoàn trả nợ. Loại tín dụng này áp dụng trong trƣờng hợp nếu giữa ngƣời cho vay và ngƣời đi vay có quan hệ thân tín, hoặc ngƣời đi vay là ngƣời có uy tín rất lớn và đƣợc mọi ngƣời công nhận, ví dụ nhƣ nhà nƣớc. + Tín dụng có bảo đảm bằng tài sản là tín dụng có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc có bảo lãnh của ngƣời thứ ba, sự vay mƣợn mà việc hoàn trả nợ đƣợc đảm bảo không chỉ bới uy tín của ngƣời vay mà còn đƣợc đảm bảo bằng các tài sản của ngƣời đi vay hoặc ngƣời bảo lãnh của ngƣời đi vay. Tài sản bảo đảm hoặc bảo lãnh của ngƣời thứ ba là căn cứ pháp lý để ngân hàng có 12 thêm nguồn thu dự phòng khi nguồn thu chính của con nợ thiếu hụt, do lo sợ phát mại tài sản đã tạo áp lực buộc con nợ phải trả nợ, giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng.
- Phân loại theo chủ thể vay vốn: Theo chủ thể vay vốn, ta có thể chia các khoản tín dụng thành: + Tín dụng doanh nghiệp + Tín dụng cá nhân, hộ gia đình + Tín dụng cho các tổ chức tài chính - Phân loại theo xuất xứ tín dụng: + Tín dụng ngân hàng trực tiếp: là hình thức tín dụng trong đó ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho khách hàng có nhu cầu vay vốn, đồng thời khách hàng hoàn trả nợ vay trực tiếp cho ngân hàng. + Tín dụng ngân hàng gián tiếp: là hình thức cấp tín dụng thông qua trung gian nhƣ: tín dụng ủy thác, cho vay hợp vốn đối với ngân hàng khác… Trong nền kinh tế thị trƣờng, phân loại tín dụng theo các tiêu thức trên chỉ mang tính chất tƣơng đối. Khi tín dụng ngân hàng ngày càng phát triển đa dạng và mở rộng phạm vi hoạt động thì cách phân loại tín dụng càng chi tiết. Việc phân loại tín dụng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý tín dụng ở ngân hàng giúp cho việc nghiên cứu sự vận động của vốn tín dụng trong từng loại hình và là cơ sở để so sánh, đánh giá hiệu quả kinh tế của chúng.
Vai trò của tín dụng ngân hàng Đối với mỗi quốc gia, tín dụng có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội: Thứ nhất, tín dụng ngân hàng thúc đẩy sự ra đời và phát triển các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế theo mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước.