CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Tổng quan nghiên cứu về huy động vốn của ngân hàng thương mại Phan Thị Thu Hà (2007), Ngân hàng thương mại, NXB Đại học Kinh tế Quốc Dân. Tài liệu cung cấp cái nhìn tổng quan về tất cả các khía cạnh ngân hàng quản lý và quản trị như: quản lý nguồn vốn, quản lý tài sản, quản trị rủi ro, thẩm định tín dụng, marketing trong ngân hàng, phân tích tài chính và chiến lược kinh doanh. Chương quản lý nguồn vốn, tác giả phân chia nguồn vốn thành hai nguồn chính là vốn chủ sở hữu và vốn nợ, đồng thời phân tích đặc điểm của từng loại vốn và các nhân tố cụ thể ảnh hưởng tới nó. Từ đó đưa ra các nội dung quản lý nguồn vốn là quản lý chi phí trả lãi và quản lý kỳ hạn.
Đường Thị Thanh Hải (2014), Nâng cao hiệu quả huy động vốn của ngân hàng, Tạp chí tài chính tháng 06/2014. Tài liệu đề cập thẳng đến bốn vai trò quan trọng của huy động vốn là quy mô vốn ngân hàng, tăng sự chủ động trong kinh doanh, nâng cao vị thế trong ngành và quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng. Đồng thời tác giả chỉ rõ các nhân tố bên ngoài tác động vào khả năng huy động vốn của ngân hàng cũng như những nhân tố thuộc về chính các ngân hàng: Chiến lược kinh doanh, chất lượng dịch vụ, chính sách lãi suất, áp dụng khoa học công nghệ vào khâu thanh toán, marketing, thâm niên và uy tín của ngân hàng. Lê Thị Thu Hằng (2012), Nghiên cứu hành vi gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân, Luận án Tiến sĩ Tâm lý học.
Luận án phân tích trên góc độ tâm lý học những nhân tố tác động đến hành vi gửi tiết kiệm của khách hàng dựa trên động cơ, nhận thức về ngân hàng và các sản phẩm tiết kiệm, thái độ của khách hàng. Những yếu tố ảnh hưởng đến hành vi được chia thành nhóm yếu 5 z tố chủ quan và khách quan. Yếu tố khách quan ngoài tâm lý-xã hội, môi trường kinh tế còn đặc biệt là yếu tố thuộc về ngân hàng. Kết hợp với hình thức quan sát, phỏng vấn chuyên gia, lập bảng khảo sát với mẫu trên 500 và chạy mô hình hồi quy, tác giả xác định được đâu là những nhân tố chính ảnh hưởng tới hành vi gửi tiết kiệm của khách hàng.
Từ đó, tác giả gợi ý các giải pháp nhằm giúp ngân hàng tăng cường huy động vốn của mình. Nguyễn Thị Hường (2012), Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn tại chi nhánh ngân hàng thương mại Cổ phần Công thương Lạng Sơn, Luận án thạc sỹ kinh doanh và quản lý. Tác giả phân tích thực trạng huy động vốn của ngân hàng Công thương chi nhánh Lạng Sơn trong giai đoạn 2009-2011, tìm ra điểm mạnh, điểm yếu, nguyên nhân của các tồn tại trong công tác huy động vốn, phân tích, thống kê tổng hợp từ các nguồn số liệu, đặc biệt phân tích từ số liệu nội bộ của ngân hàng với các chỉ tiêu huy động vốn hiệu quả, từ đó đưa ra các giải pháp để tăng cường hiệu quả huy động vốn. Nguyễn Thị Lệ Thủy (2015), Nâng cao hiệu quả hoạt động marketing trong công tác huy động vốn tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn - chi nhánh Hải Dương, Luận án thạc sĩ quản trị kinh doanh.
Luận án thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh từ các tài liệu nội bộ ngân hàng trong giai đoạn 2011-2013, đưa ra nhận định về vai trò của marketing, đánh giá hiệu quả hoạt động marketing trong công tác huy động vốn. Từ đó tác giả gợi ý những giải pháp marketing nhằm thúc đẩy công tác huy động vốn hiệu quả. Bùi Thị Tuyết Nhung (2013), Phát triển dịch vụ tại ngân hàng Công thương Việt Nam, Luận án thạc sỹ tài chính ngân hàng. Luận án tập trung phân tích về dịch vụ của ngân hàng Công thương trong giai đoạn 2007-2011, so sánh với các ngân hàng trong ngành.
Luận án đưa ra các giải pháp tập trung vào các vấn đề phát triển hơn nữa các dịch vụ hiện có, áp dụng dịch vụ mới phù hợp, 6 z dịch vụ nào nên tập trung phát triển và dịch vụ nào chưa cần tập trung. Các nhóm giải pháp đưa ra dựa trên việc phân tích nhu cầu của khách hàng là người dân Việt Nam. Mohamad Sayuti Md. Saleh (2013), Bank Selection Criteria in a Customers’ Perspective, Tạp chí khoa học Business and Management.
Bài nghiên cứu tập trung nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn sử dụng dịch vụ ngân hàng của khách hàng. Công trình nghiên cứu đã đưa ra mô hình nghiên cứu rất chi tiết, công phu và sử dụng phương pháp định lượng để đưa ra kết quả cuối cùng Lenka, U., và Mohapatra (2009), Service quality, customer satisfication, and customer loyalty in Indian commercial banks, Tạp chí khoa học Entrepreneurship. Bài nghiên cứu của nhóm tác giả tập trung nghiên cứu nhân tố chất lượng dịch vụ, sự hài lòng của khách hàng và niềm tin của khách hàng đối với các ngân hàng thương mại ở Ấn Độ. Nhìn chung các nghiên cứu trong nước đề cập nhiều và cụ thể về chi phí huy động vốn, gợi ý các giải pháp giảm thiểu chi phí huy động vốn, tăng cường lượng vốn trung và dài hạn.
Các nghiên cứu trên tập trung vào việc phân tích định tính, phân tích trên các chỉ tiêu huy động vốn, kết quả kinh doanh. Bên cạnh đó, các nghiên cứu cũng chỉ ra những yếu tố tác động đến hiệu quả huy động vốn như marketing, công nghệ, uy tín thâm niên ngân hàng, chất lượng dịch vụ v….v… Tuy nhiên, chưa có một nghiên cứu nào chỉ ra mối quan hệ định lượng giữa các nhân tố với hiệu quả huy động vốn và đo lường một cách cụ thể. Nghiên cứu “Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả huy động vốn của ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam chi nhánh Ba Đình” kế thừa tại toàn bộ các nhân tố ảnh hưởng cũng như xây dựng mô hình nghiên cứu 7 z mà các tác giả đã đề cập ở các nghiên cứu trước, đồng thời cụ thể hóa những tác động mà từng nhân tố ảnh hưởng đến mức độ huy động vốn của Vietinbank chi nhánh Ba Đình.2 Cơ sở lý luận về vốn 1.1 Vốn trong ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại là một tổ chức trung gian tài chính với các chức năng cơ bản là: trung gian tín dụng, trung gian thanh toán và chức năng tạo tiền(Phan Thị Thu Hà, 2007). Để thực hiện được các chức năng này và đi vào hoạt động một cách có hiệu quả và có lợi nhuận thì đòi hỏi ngân hàng thương mại phải có một lượng vốn hoạt động nhất định.
Vốn là một trong những yếu tố then chốt trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại. Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng hoạt động vì mục đích lợi nhuận thông qua việc kinh doanh các khoản vốn ngắn hạn là chủ yếu (Tô Kim Ngọc, 2005). Khái niệm về vốn của NHTM được định nghĩa như sau: “Vốn của ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do bản thân ngân hàng thương mại tạo lập hoặc huy động được dùng để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác” (Nguyễn Văn Tiến, 2009). Khái niệm trên đã nói đầy đủ những thành phần tạo nên vốn của ngân hàng thương mại.
Về thực chất vốn của ngân hàng thương mại là bao gồm các nguồn tiền tệ của chính bản thân ngân hàng và của những người có vốn tạm thời nhàn rỗi. Họ chuyển tiền vào ngân hàng với các mục đích khác nhau: hoặc lấy lãi, hoặc nhờ thu, nhờ chi hay là dùng các sản phẩm dịch vụ khác của ngân hàng. Đây chính là họ chuyển quyền sử dụng vốn cho ngân hàng và số tiền mà ngân hàng phải trả hay làm các dịch vụ chính là cái giá của quyền sử dụng các giá trị tiền tệ đó. Nhờ việc có được nguồn vốn, các ngân hàng có thể tiến hành 8 z kinh doanh: cho vay, bảo lãnh, cho thuê.
Nói chung vốn của ngân hàng chi phối toàn bộ và quyết định đối với việc thực hiện các chức năng của ngân hàng thương mại.2 Phân loại vốn và các hình thức huy động vốn 1.1 Vốn tự có Vốn tự có của ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do ngân hàng tạo lập được thuộc về sở hữu của ngân hàng. Đây là loại vốn ngân hàng có thể sử dụng lâu dài để hình thành nên trang thiết bị, nhà cửa cho ngân hàng. Vốn này chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng song lại là điều kiện pháp lý bắt buộc khi thành lập một ngân hàng. Do tính chất ổn định của nó, Ngân hàng có thể sử dụng vào các mục đích khác nhau như trang bị cơ sở vật chất, mua tài sản cố định, dùng để đầu tư hay góp vốn liên doanh.
Vốn tự có là căn cứ quyết định khả năng thanh toán khi Ngân hàng gặp rủi ro. Sự tăng trưởng của vốn tự có sẽ quyết định năng lực và sự phát triển của ngân hàng thương mại. Vốn tự có của Ngân hàng được hình thành căn cứ vào hình thức tổ chức của ngân hàng thương mại là: ngân hàng thương mại quốc doanh, ngân hàng thương mại cổ phần hay ngân hàng thương mại liên doanh. Vốn tự có gồm các thành phần: Vốn tự có cơ bản: chính là mức vốn tối thiểu phải có để thành lập ngân hàng do pháp luật quy định.
Lượng vốn này do các cổ đông đóng góp và được ghi vào điều lệ hoạt động của Ngân hàng. Vốn tự có bổ sung trong quá trình hoạt động có thể gia tăng theo nhiều phương thức huy động vốn khác nhau tùy thuộc vào điều kiện cụ thể. 9 z Nguồn nội bộ (nguồn từ lợi nhuận): Trong điều kiện thu nhập ròng lớn hơn không, chủ ngân hàng có xu hướng gia tăng vốn bằng cách chuyển một phần thu nhập ròng thành vốn đầu tư. Tỷ lệ tích lũy tùy thuộc vào cân nhắc của chủ ngân hàng về tích lũy từ lợi nhuận và tiêu dùng.
Những ngân hàng lâu năm có thu nhập ròng lớn, nguồn vốn tích lũy từ lợi nhuận sẽ cao hơn với vốn của chủ hình thành ban đầu. Nguồn bên ngoài: Là nguồn bổ sung từ phát hành thêm cổ phiếu để mở rộng quy mô hoạt động hoặc để đổi mới trang thiết bị hay để đáp ứng yêu cầu vốn của chủ do ngân hàng nhà nước quy định. Nếu phát hành cổ phiếu thường phải chia sẻ quyền lực và lợi nhuận.