Chương 1: Giới thiệu chung về đề tài nghiên cứu, câu h i nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài nghiên cứu. Chương 2: Trình bày cơ sở lý thuyết, các nghiên cứu trước đây và các nhân tố ảnh hưởng đếnchỉ số EPS của các công ty, từ đó hình thành mô hình nghiên cứu và đề xuất các giả thuyết cho mô hình nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu, trình bày quy trình nghiên cứu, dữ liệu nghiên cứu, mô hình nghiên cứu và đo lường các biến trong mô hình nghiên cứu. Chương 4: Trình bày kết quả nghiên cứu thu được từ quá trình phân tích, xử lý số liệu và chạy hồi quy tuyến tính đa biến.
Chương 5: Ghi nhận kết luận nghiên cứu, đồng thời đưa ra các giải pháp gợi ý, hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC Chương này sẽ trình bày các khái niệm về thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS). Bên cạnh đó, chương này cũng trình bày những nghiên cứu thực nghiệm trước đây của các nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam về các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ số thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS) và các kết quả thu được từ các nghiên cứu đó. Từ các khái niệm và các nghiên cứu thực nghiệm được trình bày, tác giả tổng hợp lại rút ra các nhân tố có thể tác động đến chỉ số EPS của các công ty sau đó tác giả xây dựng giả thuyết và mô hình nghiên cứu.
Lý thuyết về thị trường hiệu quả (Efficiency Market theory) Euge Fama (1970) là người đã tổng hợp và đưa ra phổ biến các dạng hiệu quả của thị trường. Giả thuyết thị trường hiệu quả được nêu lên rằng nhà đầu tư không thể nào vượt mặt được thị trường bằng cách sử dụng mọi thông tin mà thị trường đã biết, trừ khi nhờ may mắn. Thông tin hay tin tức trong một thị trường hiệu quả được định nghĩa là bất cứ thông tin nào có thể gây ảnh hưởng đến giá cổ phiếu, mà thông tin này không thể nào biết được trong hiện tại và chỉ xuất hiện ngẫu nhiên trong tương lai. Chính những thông tin ngẫu nhiên này sẽ làm cho giá cổ phiếu trong tương lai biến động.
Theo giả thuyết này, những thị trường trong đó xuất hiện giao dịch nội gián (insider trading) không thể coi là thị trường hiệu quả được. Thị trường hiệu quả dạng yếu Lý thuyết thị trường hiệu quả dạng này cho rằng giáchứng khoán hiện tại là sự phản ánh đầy đủ mọi thông tin dạng yếu của thị trường chứng khoán (các thông tin quá khứ), bao gồm các mức giá trong quá khứ, lợi suất trong quá khứ hay sự thay đổi của giá hay các mức lợi suất ở các thời điểm. Tại thị trường hiệu quả dạng yếu, mức giá thị trường hiện tại đã phản ánh tất cả các thu nhập trong quá khứ và 5 mọi thông tin trên thị trường nên giả thuyết này có nghĩa là lợi suất – suất sinh lời của chứng khoán trong quá khứ cũng như các thông tin khác không có mối liên hệ với tương lai (các lợi suất độc lập với nhau). Nói cách khác, không thể dự báo được giá chứng khoán trong tương lai hay là có thể kiếm được lợi nhuận vượt trội bằng những căn cứ từ thông tin tương tự của chúng trong quá khứ.
Thị trường hiệu quả dạng trung bình Lý thuyết thị trường hiệu quả dạng trung bình cho rằng giá chứng khoán sẽ điều chỉnh nhanh chóng trước bất kỳ thông tin công khai nào, tức là mức giá hiện tại phản ánh đầy đủ mọi thông tin côngkhai trong hiện tại (hoặc lân cận với hiện tại), cũng như trong quá khứ. Thị trường hiệu quả dạng mạnh Lý thuyết thị trường hiệu quả dạng mạnh cho rằng giá chứng khoán phản ánh tất cả các thông tin từ công khai đến nội bộ. Như vậy trong một thị trường hiệu quả dạng mạnh thì người sử dụng tất cảnhững thông tin có thể có, dù rằng các thông tin đó có được phổ biến ra công chúng hay không sẽ không thể thu được lợi nhuận vượt trội so với người khác 2. Các khái niệm về thu nhập mỗi cổ phiếu (EPS) Theo chuẩn mực kế toán số 30 của Bộ Tài chính định nghĩa “Lãi cơ bản trên cổ phiếu được tính bằng cách chia lợi nhuận hoặc lỗ phân bổ cho cổ đông sở hữu cổ phiếu phổ thông của công ty mẹ cho số lượng bình quân gia quyền của số cổ phiếu phổ thông đang lưu hành trong kỳ” Lãi chia cho cổ đông EPS = Số lượng CP đang lưu hành bình quân trong kỳ 2.Tổng quan các nghiên cứu trước đ y Nghiên cứu của Khalaf Taani và Banykhaled (2011) về ảnh hưởng của chỉ số tài chính, quy mô công ty và dòng tiền từ hoạt động kinh doanh lên thu nhập trên cổ phiếu.
Nghiên cứu dựa trên 40 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Amman trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2009. Thông qua phương pháp hồi 6 quy thống kê bằng phần mềm Eview, tác giả đã tìm ra được kết quả nghiên cứu: lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu có mối tương quan dương với EPS. Biến giá thị trường trên giá trị sổ sách, dòng tiền từ hoạt động kinh doanh và đòn bẩy tài chính có mối tương quan âm với EPS. Các biến tỷ suất lợ nhuận ròng, khả năng thanh toán hiện hành, vòng quay tổng tài sản và quy mô công ty không có mối tương quan.
Một nghiên cứu của Mahfuzah Salim và Raj Yadav vào năm 2012, về cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động của công ty: Bằng chứng từ các công ty niêm yến trên thị trường chứng khoán ở Maylaysian. Mẫu nghiên cứu gồm 237 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán, được lấy từ năm 1995 đến năm 2011. Với biến phụ thuộc hiệu quả hoạt động được đo lường bằng EPS và các biến độc lập gồm tỷ số nợ ngắn hạn, tỷ số nợ dài hạn, đòn bẩy tài chính, quy mô công ty và tốc độ tăng trưởng tài sản. Bằng phương pháp hồi quy đa biến, Mahfuzah Salim và Raj Yadav đã tìm ra được kết quả: tỷ số nợ ngắn hạn, tỷ số nợ dài hạn, đòn bẩy tài chính có mối quan hệ nghịch chiều với thu nhập trên cổ phiếu còn tốc độ tăng trưởng tài sản, quy mô công ty thì không có mố tương quan.
Nghiên cứu của Nidhi Malhotra và Kamina Tandon (2013) về các nhân tố tác động đến giá cổ phiếu, dữ liệu nghiên cứu được lấy từ 100 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán quốc gia trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2012. Thông qua phương pháp hồi quy thống kê, Nidhi Malhotra và Kamina Tandon đã tìm ra được kết quả như sau: Giá trị sổ sách của công ty, thu nhập trên mỗi cổ phiếu và tỷ số giá cổ phiếu trên thu nhập có mối tương quan dương đến giá cổ phiếu của công ty. Trong khi đó, tỷ suất cổ tức có mối tương quan âm đến giá cổ phiếu của công ty. Các nhân tố Cổ tức trên mỗi cổ phiếu và tỷ suất thu nhập nhập ròng và cổ tức không có mối tương quan đến giá cổ phiếu.
Nghiên cứu của Sivathaasan và Rathika (2013) về cấu trúc vốn và thu nhập trên cổ phiếu (EPS): một nghiên cứu dựa trên các tổ chức tài chính được niêm yết 7 trên thị trường chứng khoán Colombo. Giai đoạn nghiên cứu được thực hiện từ năm 2006 đến năm 2010. Dữ liệu nghiên cứu được thực hiện bằng phương pháp hồi quy bình phương bé nhất (OLS), Sivathaasan và Rathika đã nghiên cứu được kết quả sau: tỷ số vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản, nợ dài hạn trên tổng tài sản có mối tương quan nghịch chiều với thu nhập trên cổ phiếu (EPS) trong khi đó đòn bẩy tài chính thì tác động thuận chiều lên thu nhập trên cổ phiếu (EPS). Vào năm 2013 nghiên cứu của Abbasali và cộng sự về tác động của chỉ số tài chính, dòng tiền từ hoạt động kinh doanh và quy mô công ty lên chỉ số thu nhập trên cổ phiếu.
Mẫu nghiên cứu được dựa trên 140 công ty được niêm yết trên thị trường chứng khoán Tehran trong giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2010. Biến độc lập gồm có tỷ số lợi nhuận ròng trên doanh thu, lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), khả năng thanh toán, đòn bẩy tài chính, vòng quay tài sản, tỷ số giá thị trường trên giá trị sổ sách, dòng tiền từ hoạt động kinh doanh và quy mô công ty. Thông qua phân tích dữ liệu bằng phần mềm thống kế SPSS, Abbasali và cộng sự đã tìm ra được kết quả sau: Thu nhập trên cổ phiếu có mối tương quan thuận với tỷ số lợi nhuận ròng trên doanh thu, lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, khả năng thanh toán, đòn bẩy tài chính, vòng quay tài sản, tỷ số giá thị trường trên giá trị sổ sách và quy mô công ty, trong khi đó dòng tiền từ hoạt động kinh doanh thì không có mối tương quan với thu nhập trên cổ phiếu. Nghiên cứu của Bokhari và Khan (2013) về tác động của cấu trúc vốn lên hiệu quả hoạt của các công ty phi tài chính ở Pakistan.
Dữ liệu nghiên cứu dựa trên 380 của các công ty phi tài chính được niêm yết trên thị trường chứng khoán Karachi ở Pakistan, trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2011, với 2. Hiệu quả hoạt động được đo lường bằng chỉ số thu nhập trên cổ phiếu. Biến độc lập gồm có: lợi nhuận trên tổng tài sản, đòn bẩy tài chính, quy mô công ty, tăng trưởng doanh thu, tăng trưởng tài sản và vòng quay tổng tài sản. Thông qua phân tích dữ liệu bằng phần mềm SPSS, Bokhari và Khan đã nghiên cứu ra được kết quả sau: 8 Chỉ số thu nhập trên cổ phiếu có mối tương quan âm với đòn bẩy tài chính và có mối tương quan dương với quy mô công ty, vòng quay tổng tài sản.
Chỉ số thu nhập trên cổ phiếu không có mối tương quan với tăng trưởng doanh thu và tăng trưởng tài sản. Nghiên cứu củaTrương Đông Lộc (2014) về các nhân tố ảnh hưởng đến sự thay đổi của giá cổ phiếu: các bằng chứng từ Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chính Minh. Số liệu được sử dụng trong nghiên cứu này bao gồm chuỗi giá, lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu (EPS) của 20 cổ phiếu niêm yết trên HOSE, lãi suất cho vay, tỷ giá USD/VNĐ, giá vàng và chỉ số giá tiêu dùng (CPI) theo thời gian với tần suất quý trong giai đoạn từ 31/12/2006 đến 31/12/2012.