Chương 1: Cơ sở lý thuyết về các nhân tố tác động đến tỷ lệ nắm giữ tiền mặt Chương 2: N ội dung và kết quả nghiên cứu Chương 3: Kết luận và khuyến nghị PHẦ III: HẠ CHẾ VÀ HƯỚ G GHIÊ CỨU TIẾP THEO 3 PHẦ II: ỘI DU G VÀ KẾT QUẢ GHIÊ CỨU CHƯƠ G 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA VẤ ĐỀ GHIÊ CỨU 1. Khái niệm tiền mặt Tiền mặt bao gồm tiền gửi thanh toán ngân hàng, tiền mặt tại quỹ của công ty, còn các loại chứng khoán đầu tư ngắn hạn xem như là tài sản tương đương tiền mặt. Đây là loại tài sản có tính quyết định đến khả năng thanh toán và tính thanh khoản cao của các công ty. Trong công ty, nhu cầu nắm giữ tiền mặt nhằm đáp ứng nhu cầu thanh toán, giao dịch; giúp doanh nghiệp nắm bắt các cơ hội đầu tư sinh lời; đáp ứng nhu cầu dự phòng, khắc phục các rủi ro bất ngờ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh.
Hoạt động quản trị tiền mặt gắn liền với các quyết định về lượng tiền mặt nắm giữ, quản trị quá trình thu chi tiền mặt và đầu tư tiền mặt nhàn rỗi nhằm mục tiêu sinh lời. Trong đó, xác định đúng đắn mức dự trữ tiền mặt hợp lý là rất cần thiết. Quyết định nắm giữ tiền mặt mục tiêu liên quan đến việc đánh đổi giữa chi phí cơ hội do nắm giữ quá nhiều và chi phí giao dịch do nắm giữ tiền mặt quá ít. Các lý thuyết về nắm giữ tiền mặt 1.
Lý thuyết đánh đổi N ghiên cứu của Fereira và Vilela (2004) cho rằng các công ty thiết lập mức độ nắm giữ tiền tối ưu của mình bằng cách xem xét các chi phí cận biên và lợi ích cận biên. Lợi ích biên của việc nắm giữ tiền mặt là giảm khả năng xảy ra khủng hoảng tài chính, cho phép công ty thực hiện chính sách đầu tư mục tiêu của mình, và góp phần làm giảm chi phí liên quan đến huy động nguồn vốn từ bên ngoài hay thanh lý tài sản hiện hữu dễ thanh khoản. Các công ty có thể gặp các khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn từ bên ngoài hoặc họ phải chịu một chi phí rất cao vì các công ty hoạt động trong thị trường không hoàn hảo. Tiền mặt lúc này đóng vai trò như một tấm đệm giữa việc sử dụng vốn và nguồn lực của công ty.
Lý thuyết trật tự phân hạng Lý thuyết trật tự phân hạng của Myers và Majluf (1984) khẳng định rằng các công ty ưa thích nguồn tài trợ nội bộ hơn là huy động nguồn vốn từ bên ngoài. Trong nguồn tài trợ nội bộ thì tiền mặt từ lợi nhuận giữ lại được xếp đầu trong danh sách nguồn tài trợ. Do đó, nếu có cơ hội đầu tư tốt trong tương lai, các công ty thường tích trữ một lượng tiền mặt lớn từ lợi nhuận giữ lại để tài trợ cho những dự án của mình. N ếu vẫn chưa đủ thì nguồn tài trợ thứ hai mà công ty thường nghĩ đến là nợ, sau cùng mới là phát hành cổ phần mới, bởi vì đối với các công ty chưa niêm yết hoặc các công ty vừa và nhỏ thì thông tin bất cân xứng là vấn đề lớn, khiến cho khả năng tiếp cập nguồn vốn giá rẻ của các công này rất thấp.
Lý thuyết dòng tiền tự do Mô hình dòng tiền tự do đã đưa ra một cái nhìn khác về nắm giữ tiền mặt. Jensen (1986) cho rằng dòng tiền tự do cho thấy khả năng xung đột nghiêm trọng vì số lượng lớn dự trữ tiền mặt có thể phục vụ chủ yếu là lợi ích riêng của nhà quản lý. Các nhà quản lý có động cơ tích lũy nhằm mục đích gia tăng tài sản dưới quyền kiểm soát của họ và đạt được quyền làm chủ quyết định đầu tư của công ty. Khi có nhiều tiền mặt để đầu tư, nhà quản lý không cần gia tăng nguồn tài trợ bên ngoài, vì thế không cần cung cấp cho thị trường vốn thông tin chi tiết về dự án đầu tư của công ty.
Do đó, các nhà quản lý có thể thực hiện các khoản đầu tư không hiệu quả làm ảnh hưởng đến lợi ích của cổ đông. Mặt khác, các cổ đông có thể thích dòng tiền tự do được trả lại cho họ hơn. Động cơ nắm giữ tiền mặt 1. Động cơ giao dịch Động cơ giao dịch được phát triển như một mô hình nhu cầu tối ưu của tiền mặt dựa trên các chi phí giao dịch.
Các mô hình cổ điển về tài chính Miller và Orr (1966) chỉ ra các nhu cầu tối ưu cho tiền mặt khi một công ty phải gánh chịu chi phí giao dịch liên quan đến chuyển đổi một tài sản tài chính không bằng tiền thành tiền 5 mặt và sử dụng tiền mặt để thanh toán. Có mối liên hệ quy mô công ty với động cơ giao dịch, các công ty lớn nắm giữ ít tiền mặt hơn. Động cơ phòng ngừa Động cơ phòng ngừa khẳng định rằng các công ty dự trữ nhiều tiền mặt để đối phó tốt hơn với các cú sốc bất lợi, tránh tình trạng thiếu tiền mặt trong tương lai cho việc đầu tư, bởi vì tăng tài trợ bên ngoài là tốn kém hơn sử dụng nguồn vốn nội bộ được tạo ra trong sự hiện diện của thông tin bất đối xứng Opler và các cộng sự (1999). Có thể nói, những hạn chế về khả năng tiếp cận nguồn vốn, bất ổn trong dòng tiền của các công ty là những nguyên nhân chính dẫn đến nhu cầu nắm giữ nhiều tiền mặt để phòng ngừa rủi ro của công ty.
Động cơ thuế Foley và cộng sự (2007) cho rằng đối với các công ty đa quốc gia, khi chuyển thu nhập từ nước ngoài về nước thì bị đánh thuế. Khi thuế đánh vào thu nhập từ nước ngoài chuyển về cao thì các công ty có xu hướng nắm giữ nhiều tiền mặt ở các công ty con. Một lý do nữa là việc giữ tiền mặt nhiều ở các công ty con cũng giúp công ty đa quốc gia phòng ngừa rủi ro kinh doanh ở các nước, cơ hội kinh doanh ở nước bản xứ bất ổn hoặc có cơ hội đầu tư nhưng khả năng tiếp cận thị trường vốn khó khăn. Do đó, các công ty thường nắm giữ một lượng tiền mặt lớn.
Các nhân tố tác động đến việc nắm giữ tiền mặt 1. Quy mô công ty Theo mô hình đánh đổi thì quy mô công ty và nắm giữ tiền mặt có mối tương quan âm. Bên cạnh đó, theo mô hình về nhu cầu tiền mặt của công ty nói rằng có một lợi thế kinh tế về quy mô trong quản trị tiền mặt. Điều này sẽ dẫn đến việc các công ty lớn nắm giữ tiền mặt ít hơn các công ty nhỏ.
Các nghiên cứu của Saddour (2006) và Drobetz và Grüninger (2007) cũng cho rằng các công ty đang phát triển, quy mô công ty và việc nắm giữ tiền mặt có mối tương quan âm với nhau. N hững công ty nhỏ hơn sẽ nắm giữ tiền mặt lớn hơn vì họ đối mặt với chi phí cao hơn khi 6 huy động vốn bên ngoài. Trái với những nghiên cứu trên thì theo lý thuyết trật tự phân hạng, lý thuyết dòng tiền tự do dự đoán mối quan hệ giữa quy mô công ty và nắm giữ tiền mặt tuơng quan dương bởi các công ty lớn thường đạt được nhiều thành công, vì vậy nắm giữ nhiều tiền mặt nhiều hơn để phục vụ cho đầu tư. Cùng với quan điểm này, nghiên cứu Kafayat và các cộng sự (2014) cho rằng các công ty có lợi nhuận lớn và cơ hội phát triển cao thì nắm giữ tiền mặt nhiều hơn.
Giả thuyết 1a: Quy mô công ty có mối tương quan dương đến việc nắm giữ tiền mặt. Giả thuyết 1b: Quy mô công ty có mối tương quan âm đến việc nắm giữ tiền mặt. Vốn lưu động ròng Vốn lưu động ròng được định nghĩa là chênh lệch giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn phải trả. Theo nghĩa rộng, vốn lưu động là giá trị của toàn bộ tài sản ngắn hạn, những tài sản gắn liền với chu kỳ kinh doanh của công ty.
Trong mỗi chu kỳ kinh doanh, chúng chuyển hóa qua tất cả các dạng, tồn tại từ tiền mặt đến hàng tồn kho, khoản phải thu và trở về hình thái cơ bản ban đầu là tiền mặt. Theo mô hình đánh đổi thì các tài sản lưu động khác ngoài tiền có thể thanh lý trong trường hợp thiếu hụt tiền mặt, thì các tài sản lưu động đó xem như là một cách thay thế của việc nắm giữ tiền mặt. Do đó, các công ty có nhiều tài sản lưu động thay thế thường được mong đợi nắm giữ ít tiền mặt. Còn theo nghiên cứu của Wenfeng Wu và cộng sự (2011) cho rằng khi tăng các khoản phải thu thì nắm giữ tiền mặt nhiều hơn và nghiên cứu của Kafayat và các cộng sự (2014) cũng cho rằng vốn lưu động ròng có mối tương quan dương với việc nắm giữ tiền mặt.
Giả thuyết 2a: Vốn lưu động ròng có mối tương quan dương đến việc nắm giữ tiền mặt. Giả thuyết 2b: Vốn lưu động ròng có mối tương quan âm đến việc nắm giữ tiền mặt. Dòng tiền Theo lý thuyết trận tự phân hạng cho rằng các công ty có dòng tiền cao được cho là sẽ nắm giữ tiền mặt nhiều hơn. Ferreira và Vilela (2004) nghiên cứu ở các khối liên minh kinh tế và tiền tệ và Hofmann (2006) nghiên cứu ở các công ty N ew 7 Zealand cũng cho rằng dòng lưu chuyển tiền có mối tương quan dương với việc nắm giữ tiền mặt của các công ty ở nước này.
Bên cạnh đó, nghiên cứu của Drobetz và Gruninger (2007), Ogundipe và các cộng sự (2012), N guyễn N gọc Thiện (2014), Phạm Hữu Tín (2014) cũng cho rằng dòng lưu chuyển tiền có mối tương quan dương với việc nắm giữ tiền mặt của các công ty. Giả thuyết 3: Dòng tiền có mối tương quan dương đến việc nắm giữ tiền mặt. Đòn b:y tài chính Cả thuyết đánh đổi, thuyết trật tự phân hạng và thuyết dòng tiền tự do đều dự đoán một mối tương quan âm giữa đòn bNy tài chính và nắm giữ tiền mặt. Theo thuyết đánh đổi cho rằng nợ có thể thay thế cho nắm giữ tiền mặt vì nợ làm giảm rủi ro đạo đức và linh hoạt hơn.
Tương tự như vậy, theo thuyết trật tự phân hạng cho rằng các công ty có sử dụng lượng tiền mặt dư thừa để trả nợ nổi bật hoặc là tiếp tục tích lũy tiền mặt và mặc dù các công ty có thể có một mức nợ mục tiêu, tiền vẫn được sử dụng theo thuyết trật tự phân hạng.