phần mở đầu và kết luận, kết cấu đề tài gồm c 4 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết về cấu trúc tài chính và hiệu quả tài chính của doanh nghiệp; Chƣơng 2: Giả thuyết và phƣơng pháp nghiên cứu; Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu thực nghiệm ảnh hƣởng của cấu trúc tài chính đến hiệu quả tài chính của các công ty ngành vận tải niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt nam; Chƣơng 4: Các kết luận và hàm ý chính sách rút ra từ kết quả nghiên cứu. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CẤU TRÚC TÀI CHÍNH VÀ HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP 1. TỔNG QUAN VỀ CẤU TRÚC TÀI CHÍNH VÀ HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH 1. Cấu trúc tài chính doanh nghiệp a.
Khái niệm Thuật ngữ cấu trúc tài chính, cấu trúc vốn đƣợc rất nhiều nhà kinh tế trong và ngoài nƣớc sử dụng. Hai thuật ngữ này đều sử dụng để phản ánh mối quan hệ tỷ lệ giữa nợ và vốn chủ sở hữu. Có rất nhiều khái niệm về cấu trúc tài chính của doanh nghiệp, một quan điểm cho rằng: cấu tr c tài chính đƣợc hiểu là sự kết hợp giữa nợ ngắn hạn, nợ dài hạn, cổ phần ƣu đãi và cổ phần thƣờng. Tuy nhiên, một số quan điểm lại xem x t “Cấu trúc tài chính là khái niệm rộng, phản ánh cấu trúc tài sản, cấu trúc nguồn vốn và mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp” [9] cụ thể nhƣ: Theo M.Albouy, một giáo sƣ chuyên nghiên cứu về tài chính doanh nghiệp của Pháp thì cấu trúc tài chính là quan hệ giữa các nguồn vốn đƣợc sử dụng bởi doanh nghiệp, đ là nguồn vốn chủ sở hữu và nợ.
Nợ bao gồm các khoản nợ trong kinh doanh và vốn chủ sở hữu đƣợc tính từ bảng cân đối kế toán.Dubois lại cho rằng cấu trúc tài chính là quan hệ giữa các nguồn vốn đƣợc sử dụng bởi doanh nghiệp, đ là nguồn vốn chủ sở hữu và nợ. Hoặc một khái niệm đƣợc sử dụng phổ biến bởi các tác giả ngƣời Mỹ hay Pháp, theo Bertoneche và Teulie thì cấu trúc tài chính là quan hệ tỷ lệ giữa vốn và vốn chủ sở hữu phục vụ cho quá trình tài trợ của doanh nghiệp, 7 còn cấu trúc vốn đƣợc hiểu là quan hệ tỷ lệ giữa nợ trung hạn và vốn chủ sở hữu [13]. Từ các quan niệm trên, cấu trúc tài chính doanh nghiệp đƣợc hiểu trong nghiên cứu này là quan hệ tỷ lệ giữa toàn bộ nợ phải trả và vốn chủ sở hữu. Đƣợc tính toán từ số liệu trên bảng cân đối kế toán (CĐKT) của doanh nghiệp.
Từ đ , luận văn c thể tiếp cận cấu trúc tài chính dựa vào mối quan hệ giữa nợ phải trả với vốn chủ sở hữu nhằm đáp ứng nhu cầu tài trợ của doanh nghiệp. Các chỉ tiêu đo lường cấu trúc tài chính của doanh nghiệp Thuật ngữ cấu trúc vốn thƣờng đi kèm với thuật ngữ cấu trúc tài chính. Hai thuật ngữ này đều đƣợc sử dụng để phản ánh mối quan hệ tỷ lệ giữa các khoản nợ và vốn chủ sở hữu. Cấu trúc tài chính bao gồm cấu trúc vốn [13].
Nợ ngắn hạn Nợ dài hạn Cấu trúc tài chính Cấu trúc vốn Vốn chủ sở hữu ình 1. Cấu tr c ngu n vốn của doanh nghiệp Trong đ , nguồn vốn của doanh nghiệp bao gồm các chỉ tiêu sau: - Nguồn vốn chủ sở hữu: Là nguồn vốn do chủ sở hữu đ ng g p vào hoặc lợi nhuận thuộc về chủ sở hữu nhƣng chƣa đƣợc phân chia mà giữ lại cho mục đích tái đầu tƣ. Tùy theo loại hình doanh nghiệp, vốn chủ sở hữu có tên gọi khác nhau. Trong công ty cổ phần, vốn chủ sở hữu chính là vốn cổ đông, do cổ đông đ ng g p dƣới hình thức cổ phần thƣờng đƣợc gọi là vốn cổ 8 phần, và lợi nhuận thuộc về cổ đông nhƣng đƣợc công ty giữ lại tái đầu tƣ.
Một trong những điểm không thuận lợi của vốn chủ sở hữu đ là giá thành (hay chi phí) của n cao hơn chi phí của nợ. Không ngƣời đầu tƣ nào bỏ tiền đầu tƣ vào doanh nghiệp gánh chịu những rủi ro về họat động và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp mà lại chịu nhận tiền lãi bằng lãi suất cho vay nợ. Việc này cùng với tính chất không đƣợc miễn trừ thuế làm cho chi phí vốn càng cao hơn. Từ điểm bất lợi trên dẫn tới một điểm không thuận lợi khác, là khi vốn chủ sở hữu càng cao, số lƣợng ngƣời chủ sở hữu càng nhiều, thì áp lực về kỳ vọng của nhà đầu tƣ cũng nhƣ sự quản lý, giám sát của họ lên các nhà điều hành doanh nghiệp càng lớn.
Tuy vậy, vốn chủ sở hữu sẽ vẫn phải tăng khi doanh nghiệp cần tiền để cân bằng với nợ và giữ cho doanh nghiệp ở trong tình trạng tài chính lành mạnh. Một lý do để các nhà đầu tƣ tăng vốn nữa là khi thị trƣờng định giá cổ phiếu của n cao hơn giá trị nội tại (overprice). Phát hành vốn trong trƣờng hợp đ sẽ tạo ra lợi nhuận tài chính cho doanh nghiệp, và thực chất là tăng phần lợi nhuận cho những nhà đầu tƣ hiện hữu. - Nợ phải trả bao gồm: + Nợ ngắn hạn: Phản ánh những khoản nợ mà doanh nghiệp có trách nhiệm thanh toán trong vòng một năm hay một chu kỳ kinh doanh.
Nguồn vốn từ việc vay nợ ngắn hạn có chi phí sử dụng vốn thấp hơn thƣờng tạo ra một áp lực thanh toán đối với doanh nghiệp + Nợ dài hạn: Phản ánh những khoản nợ mà doanh nghiệp có trách nhiệm thanh toán vốn gốc và chi phí sử dụng vốn sau một thời hạn nhất định hay đƣợc chia thành nhiều kỳ nhất định, bao gồm khoản vốn trung và dài hạn từ các tổ chức tín dụng bên ngoài nhƣ ngân hàng, công ty cho thuê tài chính, từ việc phát hành trái phiếu vay nợ của dân chúng hay từ quỹ hỗ trợ phát 9 triển…Về nguyên tắc vốn vay dài hạn có chi phí sử dụng vốn cao hơn vốn vay ngắn hạn nên doanh nghiệp ít chịu áp lực thanh toán trong ngắn hạn. Một trong những ƣu điểm lớn nhất của việc dùng nợ thay cho vốn chủ sở hữu đ là lãi suất mà doanh nghiệp phải trả trên nợ đƣợc miễn thuế. Trong khi đ thì cổ tức hay các hình thức thƣởng khác cho chủ sở hữu đều bị đánh thuế. Nếu chúng ta thay vốn chủ sở hữu bằng nợ thì sẽ giảm đƣợc thuế doanh nghiệp phải trả và từ đ giá trị của doanh nghiệp tăng lên.
Ƣu điểm thứ hai của nợ, đ là thông thƣờng nợ rẻ hơn vốn chủ sở hữu. N i đơn giản là lãi suất ngân hàng, hay lãi suất trái phiếu thấp hơn nhiều so với lãi suất kỳ vọng của nhà đầu tƣ. Do đ khi tăng nợ tức là giảm chi phí chi ra trên một đồng tiền mặt và vì thế tăng cao lợi nhuận, cũng nhƣ giá trị của doanh nghiệp. Vì tính chất này mà tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu còn đƣợc gọi là tỷ số đòn bẩy.
Tuy vậy, doanh nghiệp không thể tăng nợ lên mức quá cao so với vốn chủ sở hữu. Khi đ , doanh nghiệp sẽ rơi vào tình trạng tài chính không lành mạnh, và dẫn đến những rủi ro không đáng c khác. Tỷ lệ nợ cao sẽ dẫn đến nguy cơ phá sản. Một công trình nghiên cứu tại Mỹ cho thấy chi phí phá sản chiếm khoảng 3% thị giá của tất cả các doanh nghiệp niêm yết.
Những doanh nghiệp có tỷ lệ nợ cao sẽ e ngại trong việc nắm bắt những cơ hội đầu tƣ, giảm bớt những chi phí tạo ra hiệu quả trong tƣơng lai nhƣ chi phí nghiên cứu và phát triển, huấn luyện, xây dựng thƣơng hiệu. Kết quả là những doanh nghiệp này đã bỏ qua những cơ hội để tăng giá trị của doanh nghiệp. Mức nợ cao còn dẫn đến những nguy cơ mất khách hàng, nhân viên và nhà cung cấp. Ngoài ra doanh nghiệp có mức nợ cao còn tạo ra sự mâu thuẫn giữa các chủ nợ và nhà đầu tƣ khi doanh nghiệp sắp phải ngừng họat động để trả nợ.
Các nhà đầu tƣ sẽ tập trung đầu tƣ vào những dự án rủi ro cao, tạo ra giá trị 10 thấp trong tƣơng lai, nhƣng c thể đem lại tiền mặt để có thể chia dƣới dạng cổ tức ngay l c này. Trong khi đ những chủ nợ lại muốn doanh nghiệp đầu tƣ vào những dự án ít rủi ro và tạo đƣợc giá trị cao trong tƣơng lai và mâu thuẫn vì thế phát sinh. Cấu trúc tài chính thể hiện chính sách tài trợ của doanh nghiệp nên khi nghiên cứu cấu trúc tài chính cần xem xét khả năng sử dụng nguồn vốn tự có của doanh nghiệp hay phải sử dụng nguồn vốn từ bên ngoài doanh nghiệp. Một số chỉ tiêu cấu tr c tài chính đƣợc sử dụng phổ biến: - Tỷ lệ nợ Nợ phải trả Tỷ lệ nợ = Tổng tài sản Tỷ lệ nợ phản ánh mức độ tài trợ tài sản của doanh nghiệp bởi các khoản nợ.
Cụ thể, sẽ cho biết trong 100 đồng tài sản của doanh nghiệp thì có bao nhiêu đồng đƣợc tài trợ bằng nguồn nợ phải trả. Vậy nên, tỉ số này càng cao càng thể hiện mức độ phụ thuộc của doanh nghiệp vào chủ nợ càng lớn, hay nói cách khác tính tự chủ của doanh nghiệp càng thấp. - Tỷ lệ tự tài trợ Nguồn vốn chủ sở hữu Tỷ lệ tự tài trợ = Tổng tài sản Ngƣợc lại với tỷ suất nợ, tỷ suất tự tài trợ thể hiện khả năng tự chủ về tài chính của doanh nghiệp. Tỷ suất này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp có tính tự chủ cao về tài chính và ít bị sức ép của các chủ nợ.
Doanh nghiệp càng có nhiều cơ hội tiếp nhận các khoản tín dụng bên ngoài. - Tỷ lệ nợ dài hạn trên vốn chủ sở hữu Tỷ lệ nợ dài hạn trên Nợ dài hạn = vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu 11 Chỉ tiêu tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu phản ánh mức độ đảm bảo nợ dài hạn bởi vốn chủ sở hữu. Qua đ thấy đƣợc rủi ro về mặt tài chính mà công ty phải chịu) qua việc loại bỏ các khoản nợ ngắn hạn (tín dụng thƣơng mại phi lãi suất và những khoản phải trả ngắn hạn). Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp có các chỉ tiêu đánh giá tính tự chủ càng cao là càng tốt, bởi có một số trƣờng hợp tỷ lệ nợ thấp là do doanh nghiệp uy tín kém, không có khả năng mở rộng, thu hút vốn vay từ các chủ nợ.