CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN VỐN TÂM LÝ VÀ HIỆU QUẢ LÀM VIỆC CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG Chương này tìm hiểu nội dung về mặt lý thuyết về vốn tâm lý và những ảnh hưởng của vốn tâm lý tới hiệu quả làm việc thông qua những nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm trước.1 Lý luận cơ bản về vốn tâm lý và hiệu quả làm việc của người lao động 1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến vốn tâm ly và hiệu quả làm việc của người lao động.1 Lý thuyết nền về vốn tâm lý Tâm lý học tích cực, sự thông thái tổ chức tích cực và hành vi tổ chức tích cực là các ý tưởng giúp Luthans và các cộng sự phát triển cấu trúc vốn tâm lý để nắm bắt năng lực tâm lý của một cá nhân và có thể được đo lường, được phát triển và được khai thác nhằm mục đích cải thiện hiệu quả làm việc (Luthans & Youssef, 2004). Trong lý thuyết về vốn tâm lý, sự tự tin năng lực bản thân, niềm hy vọng, tinh thần lạc quan và sự kiên cường là bốn thành phần của vốn tâm lý. Mặc dù là các khái niệm độc lập và có giá trị khác nhau nhưng sự tự tin năng lực bản thân, niềm hy vọng, tinh thần lạc quan và sự kiên cường vẫn có sự đóng góp lý thuyết và đo lường được để tạo ra một cấu trúc lõi bậc cao hơn là vốn tâm lý mang ý nghĩa miêu tả sự đánh giá tích cực của một cá nhân về các tình huống và xác suất thành công dựa trên các nỗ lực và tính kiên cường (Luthans et al. Hiểu đơn giản nghĩa là trong lý thuyết vốn tâm lý, nó không phải là việc cộng gộp các thành phần sự tự tin, niềm hy vọng, tinh thần lạc quan và sự kiên trì mà lớn hơn ( Luthans et al.
Thêm nữa, vì nằm trong khuôn khổ của hành vi tổ chức tích cực nên các thành phần của vốn tâm lý chứa đựng một số năng lực cơ bản đáp ứng tốt nhất các tiêu chí của hành vi tổ chức tích cực là tích cực, độc đáo, đo lường được, “giống như là trạng thái”, liên quan đến các hành vi, thái độ mong muốn và đặc biệt là liên quan đến hiệu quả. Tính tích cực cần được hiểu từ quan SVTH: Đặng Thị Bảo Ngân Khóa luận tốt nghiệp điểm chung bao quát, bao gồm cả bối cảnh, hơn là quan điểm số ít mô tả tính tiêu cực và thể hiện dưới dạng các kết quả có thể xác minh khách quan hoặc các kết quả dựa trên bằng chứng có thể quan sát được và ảnh hưởng đến bối cảnh môi trường nó xảy ra ( Luthans et al. Đặc biệt, khi xem xét trên một miền liên tục có hai điểm cuối đối diện nhau là trạng thái (state) - là các cảm xúc và tâm trạng tạm thời, chỉ thoáng qua, dễ biến động và dễ thay đổi) và đặc điểm (trait) - được xác định di truyền và hầu như không thể điều chỉnh, chẳng hạn như chiều cao, màu tóc,…, Luthans và cộng sự (2007a) cho rằng vốn tâm lý mang tiêu chuẩn “giống như là trạng thái” (state-like), tức là nằm gần với trạng thái (state) hơn và mang đặc điểm dễ uốn nắn và sẵn sàng thay đổi và phát triển nhưng không phải là tạm thời. Điều này làm cho vốn tâm lý không chỉ có bốn thành phần như đã nêu mà còn có thể có thêm các cấu trúc tích cực khác như trí tuệ, lòng biết ơn, sự tha thứ, lòng dũng cảm bằng cách sử dụng các chương trình đào tạo ngắn hạn, các hoạt động dựa vào đặc điểm công việc và chú trọng cao vào các can thiệp vi mô ( Luthans et al.
Miền liên tục trạng thái - Đặc điểm TRẠNG THÁI tích “Giống như là trạng “Giống như là đặc ĐẶC ĐIỂM tích cực thái” điểm” cực Positive STATES “State-like” “Traits-like” Positive TRAITS Cảm giác và cảm Vốn tâm lý Thế mạnh và cá Đặc điểm vĩnh viễn xúc tạm thời (Rất (sẵn sàng thay đổi tính (Hoàn toàn khó khó để duy trì sự và phát triển) (Khó thay đổi và thay đổi và phát thay đổi và phát phát triển ở người triển) triển) lớn. Cần lựa chọn và/ hoặc phù hợp với tình huống) Nguồn: Luthans và cộng sự (2015) 1.2 Khái niệm về vốn tâm lý Vốn tâm lý và nội hàm của nó đã được tìm hiểu từ đầu những năm 1990 trở lại SVTH: Đặng Thị Bảo Ngân Khóa luận tốt nghiệp đây với những đại diện tiêu biểu như Law và các cộng sự (1998), Hobfoll (2002), Luthans (2004), Luthans và Youssef (2004) hay Luthans và các cộng sự (2007). Có nhiều cách hiểu về vốn tâm lý. Theo Avey và các cộng sự (2009), vốn tâm lý được được định nghĩa như là bản chất của con người và là trạng thái tâm lý tích cực trong sự phát triển của cá nhân.
Nó trả lời cho câu hỏi (bạn là ai ?) và (bạn có thể đạt được cái gì ?) xét về mặt phát triển tích cực (Avolio và Luthans, 2006). Vốn tâm lý khác với vốn nhân lực (bạn biết gì?), vốn xã hội (bạn biết ai?), và vốn tài chính (bạn có cái gì?). Nó ảnh hưởng tích cực tới bản chất con người và giúp các cá nhân có được hiệu quả cao trong công việc (Luthans và Youssef, 2004). Nói chung vốn tâm lý thường được nghiên cứu dưới cái ô lý thuyết của nó là hành vi tổ chức (Avey và các cộng sự, 2009) Theo Luthans và các cộng sự (2007), vốn tâm lý là trạng thái phát triển tâm lý tích cực của một cá nhân và được mô tả bởi : (i) sự tự tin để đảm nhận và thực hiện những nhiệm vụ mang tính thử thách với nỗ lực cần thiết để đạt được thành công; (ii) thái độ lạc quan về sự thành công ở hiện tại và tương lai; (iii) kiên cường hướng tới mục tiêu và khi cần thiết có thể xoay chuyển mục tiêu để đạt đến thành công; và (iv) khi đối mặt với những vấn đề bất lợi, họ duy trì, thích nghi và vượt qua những trở ngại để đạt thành công.
Nhìn chung, vốn tâm lý có một số đặc điểm sau: + Thứ nhất, vốn tâm lý mang tính cách của một cá nhân, mặc dù nhìn chung ổn định và nhất quán, nhưng dễ thay đổi trong các tình huống khác nhau (Robbins và các cộng sự. Điều này được khẳng định bởi Luthans và cộng sự (2007) khi các tác giả cho rằng: không giống như các yếu tố xác định về mặt di truyền, vốn tâm lý thay đổi tùy thuộc vào kinh nghiệm, tuổi tác, quá trình, biến động tâm lý. + Thứ hai, vốn tâm lý khác với các khái niệm về vốn con người và vốn xã hội (hoặc trong doanh nghiệp là vốn xã hội của tổ chức) được coi là năng suất biểu hiện trong các mối quan hệ làm việc giữa người với người (Tomer, 1999). Vốn tâm lý được xây dựng dựa trên những lý thuyết và nghiên cứu về vốn con người và vốn xã hội.
Tuy nhiên nó đã vượt ra khỏi những lý thuyết và nghiên cứu về vốn con người, nghĩa là “bạn biết gì”, và vốn xã hội “bạn biết ai”. Cụ thể vốn tâm lý đề cập đến “bạn là ai” và SVTH: Đặng Thị Bảo Ngân Khóa luận tốt nghiệp trong nhận thức phát triển “ai là người bạn đang muốn trở thành?” (Luthans và các cộng sự, 2007). + Thứ ba, tuy nhiên có sự phối hợp giữa vốn tâm lý, vốn con người, và vốn xã hội. Ví dụ, những cá nhân có sự sự tự tin cao, khả năng thích nghi, hay sự kiên cường sẽ có nhiều khả năng đạt được thành tích trong học tập hoặc trong các nhiệm vụ công việc mới (đó là kỹ năng phát triển vốn con người) và thúc đẩy các mối quan hệ xã hội (vốn xã hội) (Luthans và các cộng sự, 2007) Vốn tâm lý có bốn thang đo (i) Niềm hy vọng (Snyder và các cộng sự, 1996), (ii) Sự kiên cường (Wagnild và Young, 1993) , (iii) Tinh thần lạc quan (Scheier và Carver, 1985), (iv) Sự tự tin vào năng lực bản thân (Parker và các cộng sự, 1998).
Tập hợp ý kiến của các tác giả trên, Luthans và các cộng sự, (2007) đề xuất bốn thành phần cấu thành vốn tâm lý gồm: niềm hy vọng (hope), sự kiên cường (resiliency), tinh thần lạc quan (optimism) và sự tự tin vào năng lực bản thân (self-efficacy). Những nhân tố này có mối quan hệ tích cực tới hiệu quả công việc. Trong đó: + Sự tự tin vào năng lực bản thân có tác động dương đến hiệu quả làm việc (Stajkovic và Luthans, 1998). + Niềm hy vọng có tác động dương đến hiệu quả làm việc ( Stajkovic và Luthans, 1998).
+ Tính lạc quan của nhân viên có tương quan với hiệu quả làm việc, sự hài lòng, hạnh phúc và sự duy trì (Youssef và các cộng sự, 2007). + Sự kiên cường có tác động dương đến hiệu quả làm việc của nhân viên(Luthan và các cộng sự, 2005), hạnh phúc và sự hài lòng (Youssef & Luthans, 2007). Như vậy, vốn tâm lý là một thang đo được cấu thành bởi các cấu trúc đo lường bậc hai của nó và các cấu trúc đo lường bậc hai này chính là các yếu tố thể hiện tâm lý tích cực và có thể tác động tới các mặt khác nhau của người sở hữu nó như tác động tới thái độ làm việc, hành vi của người lao động, hay hiệu quả làm việc (Avey và các cộng sự, 2009) Trong nghiên cứu này, niềm hy vọng, sự kiên cường, tinh thần lạc quan và sự tự tin vào năng lực bản thân được coi là các thang đo thành phần của vốn tâm lý. Các yếu tố này sẽ được đặt trong mối quan hệ với hiệu quả làm việc để tìm ra liệu có bất cứ sự SVTH: Đặng Thị Bảo Ngân Khóa luận tốt nghiệp thay đổi nào đến các yếu tố trên trong phạm vi nghiên cứu ở người lao động hiện đang làm việc tại Sở Tài Chính tỉnh Thừa Thiên Huế.2 Các thành phần cấu thành Vốn tâm lý 1.1 Tự tin vào năng lực bản thân (self-efficacy) Tự tin vào năng lực bản thân được hiểu là niềm tin của một người vào khả năng của chính mình để thực hiện tốt bất cứ điều gì bằng sự nỗ lực (Wood và các cộng sự, 1996).
Những người tự tin vào năng lực bản thân cao sẽ tiếp cận các tình huống mới một cách tự tin và kiên trì nỗ lực hết mình vì họ tin thành công sẽ đến; trong khi đó người thiếu tự tin vào năng lực bản thân nghĩ về thất bại và né tránh thử thách. Tự tin vào năng lực bản thân bao gồm sự tự tin vào khả năng suy nghĩ, học tập, đưa ra những quyết định phù hợp và phản ứng một cách hiệu quả để thay đổi.