CHƯƠNG 1: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE TAC DONG CUA VON DAU TƯ TRỰC TIẾP NUOC NGOAI DEN NANG SUAT LAO DONG NGANH CONG NGHIEP 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về tác động của von đầu tư trực tiếp nước ngoài đến năng suất lao động ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 1. Các công trình nghiên cứu về tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến năng xuất lao động của các nước trên thế giới Nghiên cứu "The Impact of FDI on the Labor Market: The Case of ASEAN?” của tác giả Ngoc Anh Phạm va Thị Thu Hiền Phan (2020) về ảnh hưởng của FDI đến thị trường lao động của các nước ASEAN. Các tác giả đã phân tích tác động của FDI lên chi phí, nhu cầu và năng xuất và môi trường lao động. Kết quả của nghiên cứu cho thấy FDI có tác động tích cực đến thị trường lao động của các nước trong khu vực đặc biệt là năng xuất lao động điều này đồng nghĩa FDI có khả năng làm tăng lương và năng xuất lao động và đặc biệt là trình độ của lực lượng lao động bằng cách thúc đây khả năng cạnh tranh của họ.
Trong quá trình nghiên cứu nhóm tác giả chỉ ra rằng các quốc gia nổi bật về sự tác động từ FDI lên năng xuất lao động như Việt Nam, Thái Lan, Indonesia. Nghiên cứu của Carmen Bogheana và Mihaela Statea (2015) phân tích mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và năng suất lao động ở các nước thuộc Liên minh châu Âu. Dựa trên dữ liệu có sẵn được lay từ Eurostat, trong khoảng thời gian 2000 - 2012 và định lượng SPSS thông qua các phương pháp tương quan, nhân mạnh rang sự tôn tại của mối liên hệ chặt chẽ giữa khối lượng dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và các năng suất. Các giá trị cho thay môi liên hệ trực tiêp và mạnh mẽ giữa dòng von dau tư trực tiếp nước ngoài và năng suất lao động trung bình đối với các quốc gia như: Bulgaria, Cộng hòa Séc, Đức, Estonia, Hy Lạp, Tây Ban Nha, Ba Lan, Bồ Dao Nha, Slovenia và Slovakia.
Đối với Romania, hệ số Spearman thu được chứng minh răng kết nối là trực tiếp, đáng kể và có ý nghĩa. Một nghiên cứu "Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào dịch vụ và năng suất sản xuất: Bằng chứng cho Chile" được nghiên cứu bởi Ana M. Fernandes và Caroline Paunov (2012) cũng phân tích năng suất sản xuất. Bài viết này xem xét tác động của dòng vốn dau tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đáng ké trong các lĩnh vực dịch vụ sản xuất đối với năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) cua các công ty sản xuất Chile.
Bộ dữ liệu là một bang điều khiển không cân bang năm bắt sự ra vào của công ty. Dé ước tính ảnh hưởng của FDI dịch vu đối với TFP sản xuất, các tác giả xem xét hàm sản xuất Cobb-Douglas trong logarIt. Thấy rằng FDI dịch vụ mang lại cơ hội cho các công ty tụt hậu bắt kịp các công ty dẫn đầu ngành Nghiên cứu của Norhanishah Mohamad Yunus và TaJul Ariffin Masron năm 2020 "Tác động lan tỏa của đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nước ngoài đối với năng suất lao động: Phân tích thành phần kỹ năng trong ngành sản xuất" từ 14 ngành sản xuất trong giai đoạn 2000-2018. Bài viết này so sánh ảnh hưởng của hiệu ứng công nghệ về năng suất lao động theo thành phần trong các ngành sản xuất của Malaysia.
Kết quả kinh tế lượng cho thấy tất cả các yếu tố quyết định năng suất lao động Malaysia — đầu tư vào giáo dục, R&D địa phương, quy mô công ty và cả tác động lan toa FDI từ công nghệ và tri thức góp phần đáng kể vào việc tăng năng suất lao động Malaysia. Các công trình nghiên cứu về tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đên năng xuât lao động của Việt Nam Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một trong những yếu tố quan trọng quyết định sự phát triển của đất nước. Tuy nhiên, các nghiên cứu về tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với Việt Nam đặc biệt là sự tác động lan tỏa lên năng xuất lao động vẫn còn rất khan hiếm. Nghiên cứu "Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến năng suất lao động ở nước sở tại: Trường hợp của Việt Nam" do Phạm Xuân Kiên nghiên cứu (2008).
Bài viết này trả lời liệu FDI có làm tăng năng suất lao động tổng thé ở Việt Nam hay không va các yếu tố chính quyết định sự lan toa FDI sang nước sở tại là gì và sự lan tỏa của FDI khác nhau do các hình thức FDI khác nhau cũng như các địa điểm khác nhau trong trường hợp của Việt Nam. Tác giả này đã sử dụng số liệu của Điều tra doanh nghiệp năm 2005 của Tổng cuc Thống kê Việt Nam, tập trung vào dữ liệu ở cấp độ doanh nghiệp trong bốn tiểu ngành: chế biến thực phẩm, dệt may, may mặc, da giày, điện tử và cơ khí có 441 doanh nghiệp bao gồm các doanh nghiệp trong nước và FDI đặt trên cả nước. Kết quả cho thấy sự lan tỏa của FDI đến năng suất lao động nói chung ở Việt Nam là rõ ràng và tích cực mạnh mẽ. Sự lan tỏa của FDI vào Việt Nam phụ thuộc vào kỹ năng, quy mô và khoảng cách cường độ vốn giữa FDI và các doanh nghiệp trong nước.
Hơn nữa, sự lan tỏa của FDI vào Việt Nam cũng được tìm thấy là khác nhau giữa các địa điểm. Nghiên cứu “Tác động lan tỏa của FDI đến năng xuất lao động ngành chế tác ở Việt Nam” của tác giả Đàm Đình Mạnh (2018) đã tác động lan tỏa của vốn đầu tư nước ngoài lên năng suất lao động ngành chế tác tại Việt Nam giai đoạn 2009-2018 với hơn 15 nghìn doanh nghiệp theo 2 kênh lan tỏa theo chiều dọc và chiều ngang. Nghiên cứu đã chỉ ra tác động tiêu cực từ nhân tố môi trường thể chế kinh đoanh lên năng suất lao động của doanh nghiệp 10 nước ngoài và tác động tích cực từ các doanh nghiệp FDI đến năng xuất lao động ngành chế tác tại Việt Nam. Nghiên cứu đề suất 3 hàm ý chính sách chính: (i) Cần giảm dào cản gia nhập ngành, thu hút FDI dé tăng mức độ cạnh tranh trong ngành, (1) chiến lược đào tạo bồi dưỡng cho doanh nghiệp chế tác tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.
(iii) doanh nghiệp chế tác Việt Nam cần chủ động nâng cao năng lực tay nghề của lao động. Bài báo “Tác động lan tỏa năng suất của đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Tuệ Anh (2018) đã nêu rõ thực trạng và đánh giá thực trạng khang định rang FDI có tác động lan tỏa đến khu vực doanh nghiệp trong nước tuy nhiên ở mức độ thấp. Tác giả cũng đưa ra một số gợi ý chính sách giúp thu hút nguồn FDI có chất lượng và nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trần Câm Linh (2013) đã nghiên cứu về "Tác động của FDI đến năng suất lao động của các doanh nghiệp sản xuất trong ngành dệt may Việt Nam" băng cách sử dụng số liệu 1.237 doanh nghiệp trong năm 2010, trong đó, doanh nghiệp FDI chiếm 27,7% tổng số doanh nghiệp, doanh nghiệp nhà nước chiếm 3,7% và doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm 68,6%.
Tác giả đã sử dụng hàm Cobb - Douglas và hàm Translog dé phân tích và bién năng suất lao động được giải thích bang các biến như: vốn đầu tư có định trên mỗi nhân viên, chi phí doanh nghiệp trên mỗi công nhân, lao động bình quân trong doanh nghiệp, số năm hoạt động của doanh nghiệp, địa điểm kinh doanh và hình thức sở hữu doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu khang định có tác động của FDI đến năng suất lao động của các doanh nghiệp hoạt động trong ngành dệt may và tác động này là tiêu cực. Bên cạnh đó, nghiên cứu 11 cũng khang định chưa có bang chứng về tác động của FDI đến năng suất lao động của các doanh nghiệp dệt may hoạt động ở các vùng miền khác nhau của đất nước. Nghiên cứu "Ảnh hưởng của đầu tư trực tiếp nước ngoài và nguồn nhân lực đến năng suất lao động: Bằng chứng từ Việt Nam" được nghiên cứu bởi Nguyễn Hoàng Lê, Lương Vĩnh Quốc Duy, Bùi Hoàng Ngọc (2019).
Tốc độ tăng trưởng kinh tế của năm hiện tại sẽ bị ảnh hưởng bởi tốc độ tăng trưởng của các năm trước với dữ liệu của Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2014. Bai viết khang định hai điểm chính: (i) FDI và nguôồn nhân lực có tác động tích cực đến việc nâng cao năng suất lao động trong dài hạn. (ii) Có nguyên nhân Granger đơn hướng chạy từ FDI và chỉ số vốn con người đến năng suất lao động. Hơn nữa, bài viết này có hai hàm ý chính sách: Thứ nhất, Việt Nam cần day mạnh xã hội hóa giáo dục dai hoc va giáo duc nghề nghiệp.
Thứ hai, cần có chiến lược đài hạn đề thu hút FDI, ưu tiên các dự án FDI công nghệ cao, sử dụng ít tài nguyên thiên nhiên. Có thê thấy rõ ở Việt Nam, nghiên cứu về tác động của FDI đến năng suất lao động rat đa dang. Hầu hết các nghiên cứu mới đều có trình độ phân tích lý luận, tình hình chung và đề xuất chính sách, tầm nhìn dài hạn trong tương lai. Tuy nhiên, hầu như không có nhiều nghiên cứu về tác động của FDI đối với từng thành phan kinh tế, đặc biệt là những thành phan có tỷ trọng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn.
Cơ sở lý luận về tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến năng suất lao động ngành công nghiệp chế biến, chế tao 1. Các khái niệm 12 Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài: Vấn đề đầu tư trực tiếp nước ngoài đang được chú ý nhiều hơn, cả ở cấp quốc gia và quốc tế. Các nhà kinh tế tin rang FDI là một yếu tố thiết yêu của phát triển kinh tế ở tat cả các quốc gia, đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã trở thành một hình thức đầu tư phổ biến trong nhiều thập kỷ và đã được xác định bởi các học giả, tổ chức kinh tế quốc tế cũng như luật pháp của hầu hết các quốc gia.
Theo OCED iLibrary, “Đầu tu trực tiếp nước ngoài (FDI) là một loại hình đầu tư xuyên biên giới trong đó một nhà đầu tư cư trú tại một nền kinh tế thiết lập lợi ích lâu dài và mức độ ảnh hưởng đáng kê đối với một doanh nghiệp cư trú tại một nền kinh tế khác.