Chương 1: Tổng quan về VHDN và sự gắn kết với tổ chức của nhân viên Chương 2: N ghiên cứu ảnh hưởng của VHDN đến sự gắn kết với tổ chức của nhân viên tại CTCP Dệt May Huế Chương 3: Các định hướng và giải pháp xây dựng VHDN nhằm nâng cao sự gắn kết với tổ chức của nhân viên tại CTCP Dệt May Huế Phần III: Kết luận và kiến nghị SVTH: Hồ Thị Thanh Thanh 12 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. guyễn Thị Minh Hương PHẦ II: ỘI DU G VÀ KẾT QUẢ GHIÊ CỨU CHƯƠ G 1: TỔ G QUA VỀ VĂ HÓA DOA H GHIỆP VÀ SỰ GẮ KẾT VỚI TỔ CHỨC CỦA HÂ VIÊ 1. Khái niệm về VHD9 Thuật ngữ “VHDN ” lần đầu tiên xuất hiện vào những năm 1960 trong các doanh nghiệp và các tổ chức khác như trường đại học. Sau này, các định nghĩa về VHDN được biết đến rộng rãi hơn vào đầu những năm 1980 và phát triển mạnh những năm 90.
Ở thời điểm đó, VHDN đã được các nhà quản lý, nhà xã hội học và các học giả khác sử dụng để mô tả đặc điểm của một công ty. Đến nay, VHDN được định nghĩa khác nhau bởi nhiều tác giả và các nhà nghiên cứu cả trong nước lẫn quốc tế. Trong nghiên cứu này, khái niệm về VHDN có thể được tiếp cận như sau: Theo Tổ chức Lao động quốc tế ILO (International Labour Organization): “VHD là một tập hợp các giá trị, tiêu chu8n, thói quen và truyền thống, những thái độ ứng xử và lễ nghi mà toàn bộ chúng là duy nhất đối với một tổ chức đã biết.” N hà xã hội học người Mỹ Edgar Schein đưa ra quan điểm rằng: “VHD là tập hợp sự đồng nhất và lâu bền một cách tương đối các giá trị, niềm tin, phong tục, truyền thống và thực hành, được chia sẻ giữa các thành viên trong tổ chức, được những thành viên mới tham gia tổ chức học tập và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ tiếp theo”. Đây được xem là định nghĩa phổ biến và được chấp nhận rộng rãi nhất về VHDN.
Hay theo Williams, A. & Walter (1993) thì nhận định VHDN là những niềm tin, thái độ và giá trị tồn tại phổ biến và tương đối ổn định trong doanh nghiệp. N ăm 2001, trong cuốn sách “Văn hóa kinh doanh và triết lý kinh doanh”, PGS.TS Đỗ Minh Cương đã viết: “VHD bao gồm những giá trị, những nhân tố văn hóa mà doanh nghiệp tạo ra trong quá trình SXKD, tạo nên cái bản sắc của doanh nghiệp và tác động tới tình cảm, lý trí và hành vi của tất cả các thành viên của nó.” SVTH: Hồ Thị Thanh Thanh 13 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. guyễn Thị Minh Hương Tuy các định nghĩa trên có khác nhau về mặt ngôn từ và hình thức diễn đạt, ta có thể nhận thấy điểm chung về VHDN là hệ thống các chuNn mực giá trị về vật chất và tinh thần, được xây dựng trong suốt lịch sử hình thành và phát triển của doanh nghiệp.
VHDN tác động và chi phối các mối quan hệ, thái độ, nếp suy nghĩ và hành vi ứng xử của các thành viên trong doanh nghiệp. VHDN đại diện những nét tiêu biểu và độc đáo nhất, giúp doanh nghiệp truyền tải thông điệp và giá trị tốt đẹp đến mọi người; góp phần định hướng giúp doanh nghiệp phát triển tốt hơn và tồn tại lâu dài trong thị trường kinh doanh. Vai trò của VHD9 Theo Bozlagan và cộng sự (2010), Bhatnagar (2007) và Ranya (2009), các vai trò của VHDN bao gồm: Tạo động lực làm việc và củng cố lòng trung thành Một nền VHDN vững mạnh sẽ tạo ra những nhân viên năng động, sáng tạo cống hiến vì mục tiêu lợi ích doanh nghiệp. Theo tháp nhu cầu của Maslow, được tôn trọng và thể hiện bản thân là hai nhu cầu cao cấp nhất của con người.
Khi thỏa mãn được hai yếu tố trên, nhân viên có xu hướng gắn bó lâu dài và làm việc hiệu quả hơn. Lương và thu nhập là hai yếu tố quan trọng trong việc tạo động lực cho nhân viên nhưng đó không phải là yếu tố quyết định. Một môi trường hòa đồng, nhân viên hiểu rõ được mục tiêu, định hướng sẽ là nơi mà người lao động lựa chọn gắn bó lâu dài và cống hiến hết mình. Điều phối và kiểm soát VHDN tạo ra khuôn mẫu ứng xử cho doanh nghiệp.
N ó có tác dụng thống nhất, điều phối và kiểm soát hành vi của các thành viên theo cơ sở chuNn mực chung. Trong nhiều tình huống thực tế, mỗi cá nhân có xu hướng giải quyết khác nhau, đôi khi sẽ gây ra việc mất cân bằng và thiếu hiệu quả. Thông qua các chuNn mực, quy trình, nguyên tắc sẽ tạo nên một trật tự cho hoạt động của doanh nghiệp. Việc thống nhất cách thức hoạt động sẽ mang lại hiệu quả cho doanh nghiệp.
Giảm xung đột Doanh nghiệp cũng chính là một xã hội thu nhỏ, nơi tập hợp nhiều con người với tính cách, quan điểm, lối sống, động cơ và mục tiêu khác nhau. Vậy làm thế nào để tìm SVTH: Hồ Thị Thanh Thanh 14 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. guyễn Thị Minh Hương được tiếng nói chung và cùng thống nhất cách làm việc? VHDN chính là chất keo gắn kết các thành viên với nhau, khi đối mặt với xung đột thì văn hóa chính là yếu tố giúp mọi người ổn định và hòa nhập, hay nói cách khác văn hóa giúp doanh nghiệp giải quyết gốc rễ các vấn đề xung đột giữa các cá nhân và giữa cá nhân với tập thể. Lợi thế cạnh tranh Mỗi doanh nghiệp sẽ có một nét văn hóa riêng, điều đó tạo nên được lợi thế cạnh tranh thông qua việc định hình tính cách doanh nghiệp và tác động đến nguồn nhân lực tại doanh nghiệp đó.
Bản sắc riêng được thể hiện trong mỗi doanh nghiệp. Không phải ngẫu nhiên mà mỗi doanh nghiệp đều chú trọng việc xây dựng và quảng bá thương hiệu. Thương hiệu của doanh nghiệp được thể hiện qua các yếu tố trực quan như logo, nhãn mác, catalog và các yếu tố thuộc về “phần hồn” của doanh nghiệp bao gồm những giá trị, niềm tin, nguyên tắc hoạt động của doanh nghiệp đó. Doanh nghiệp được biết đến thông qua văn hóa của mình hay chính văn hóa đã làm nên tính cách của doanh nghiệp.
Một doanh nghiệp xây dựng được văn hóa tốt sẽ thu hút được khách hàng và gây dựng lòng tin ở họ. Khách hàng tìm đến doanh nghiệp không chỉ vì sản phNm, dịch vụ mà VHDN tạo ra khuôn mẫu ứng xử cho doanh nghiệp. N ó có tác dụng thống nhất, điều phối và kiểm soát hành vi của các thành viên theo cơ sở chuNn mực chung. Trong nhiều tình huống thực tế, mỗi cá nhân có xu hướng giải quyết khác nhau, đôi khi sẽ gây ra việc mất cân bằng và thiếu hiệu quả.
Thông qua các chuNn mực, quy trình, nguyên tắc sẽ tạo nên một trật tự cho hoạt động của doanh nghiệp. Việc thống nhất cách thức hoạt động sẽ mang lại hiệu quả cho doanh nghiệp. Các biểu hiện đặc trưng của VHD9 Trích từ “Đạo đức kinh doanh và văn hoá công ty”, tác giả N guyễn Mạnh Quân (2011), N xb Đại học Kinh tế quốc dân, Hà N ội: VHDN có thể được thể hiện thông qua những dấu hiệu, biểu hiện điển hình, đặc trưng gọi là các biểu trưng. Biểu trưng VHDN thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, phong phú, đa dạng tùy theo sự sáng tạo của mỗi tổ chức, doanh nghiệp bao gồm biểu trưng trực quan và biểu trưng phi trực quan.
SVTH: Hồ Thị Thanh Thanh 15 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. guyễn Thị Minh Hương a. Các biểu trưng trực quan Các biểu trưng được sử dụng để thể hiện nội dung của văn hoá công ty gọi là các những biểu trưng trực quan. Chúng thường là biểu trưng được thiết kế để dễ nhận biết bằng các giác quan (nhìn thấy, nghe thấy hoặc sờ thấy).
Các biểu trưng trực quan điển hình bao gồm: (1) đặc điểm kiến trúc - là phong cách, màu sắc, kiểu dáng kiến trúc, thiết kế; (2) nghi thức đặc trưng, hành vi, trang phục, lễ nghi, quy định, nội quy…; (3) biểu trưng ngôn ngữ, khNu hiệu, từ ngữ đặc trưng; (4) biểu trưng phi-ngôn ngữ, biểu tượng, logo, linh vật…; (5) mNu chuyện, tấm gương, giai thoại, huyền thoại, nhân vật điển hình…; (6) ấn phNm, tài liệu VHDN , chương trình quảng cáo, tờ rơi, bảo hành, cam kết…; (7) truyền thống, giá trị, nề nếp, hành vi, tấm gương… trong quá khứ cần gìn giữ, tôn tạo, phát huy. Đặc điểm và nội dung VHDN của một tổ chức có thể được thể hiện thông qua những dấu hiệu đặc trưng, điển hình - những biểu trưng trực quan. Cách phân loại và hình thức các biểu trưng trực quan là rất phong phú và sáng tạo. Điển hình bao gồm: (1) lịch sử phát triển và truyền thống, (2) đặc điểm kiến trúc, (3) nghi lễ, (4) giai thoại, (5) biểu tượng, (6) ngôn ngữ, và (7) ấn phNm đặc trưng, quảng cáo.
Các biểu trưng phi - trực quan N hận thức và sự thay đổi nhận thức diễn ra thường xuyên trong mỗi cá nhân, chúng rất khó nhận thấy được bằng những biểu hiện trực quan. Chúng chỉ có thể cảm nhận được thông qua những biểu hiện về trạng thái tình cảm và hành vi. Các biểu trưng phi - trực quan là những dấu hiệu đặc trưng thể hiện mức độ nhận thức đạt được ở các thành viên và những người hữu quan về văn hoá công ty. Tuỳ theo mức độ nhận thức, trạng thái biểu cảm và tính chủ động trong hành vi, các biểu trưng phi-trực quan có thể được chia thành bốn cấp độ từ thấp đến cao là: (1) Giá trị, biết những việc cần phải làm, những yêu cầu cần đáp ứng, những hành vi cần thực hiện, những quy định cần tuân thủ; (2) Thái độ, hiểu được ý nghĩa của những việc cần phải làm, những yêu cầu cần đáp ứng, những hành vi cần thực hiện, những quy định cần tuân thủ; SVTH: Hồ Thị Thanh Thanh 16 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.
guyễn Thị Minh Hương (3) N iềm tin, thấy được lợi ích/giá trị của những việc cần phải làm, những yêu cầu cần đáp ứng, những hành vi cần thực hiện, những quy định cần tuân thủ đối với bản thân và mọi người; (4) N guyên tắc, coi việc thực hiện của những việc cần phải làm, những yêu cầu cần đáp ứng, những hành vi cần thực hiện, những quy định cần tuân thủ là cách hành động đúng đắn, tốt nhất đối với bản thân. Tuỳ thuộc vào mức độ chuyển hoá về nhận thức, hành vi sẽ được thực hiện với mức độ chủ động khác nhau.