Chương 1: Giới thiệu chung - Chương 2 Lý thuyết về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại và một số kết quả nghiên cứu trước đây - Chương 3: Thực trạng về chính sách tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại của Việt Nam trong những năm sau khi Việt Nam gia nhập WTO - Chương 4: Phương pháp nghiên cứu - Chương 5 Kết luận và khuyến nghị LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƯƠNG 2: LÝ THUYẾT VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CÁN CÂN THƯƠNG MẠI VÀ MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2. Lý thuyết về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại 2. Điều kiện Marshall – Lerner Alfered Marshall và Abba Lerner (1944) đã đưa ra phương pháp tiếp cận hệ số co dãn (the elasticity approach) nhằm nghiên cứu sự ảnh hưởng của tỷ giá tới cán cân thương mại thông qua hệ số co dãn theo giá cả của xuất khẩu và nhập khẩu. Marshall và Lerner cho rằng khi phá giá đồng nội tệ có thể giúp cải thiện cán cân thương mại và tăng năng lực cạnh tranh cho hàng hóa của một quốc gia.
Cụ thể, khi một quốc gia giảm giá đồng tiền của mình thì hàng hóa nội địa sẽ trở nên rẻ tương đối so với hàng hóa sản xuất ở nước ngoài, do đó làm tăng xuất khẩu và giảm nhập khẩu. Tuy nhiên, để cho việc phá giá tiền tệ này thực sự giúp cải thiện cán cân thương mại, Marshall và Lerner đã đưa ra một điều kiện áp dụng cho hệ số co dãn theo giá cả của xuất khẩu cũng như nhập khẩu. Một chính sách phá giá hoặc tăng giá đồng tiền nhằm loại trừ thâm hụt hay thặng dư thương mại muốn phát huy hiệu quả thì phải thỏa mãn điều kiện này. Điều kiện này sau đó được đặt tên theo hai tác giả, cụ thể như sau: Theo Krzyzanowski (2017), điều kiện do Marshall và Lerner đưa ra nói rằng nếu một quốc gia mong muốn cải thiện cán cân xuất nhập khẩu của mình bằng việc phá giá đồng nội tệ, thì khi cộng giá trị hai độ co dãn theo giá của xuất khẩu và độ co dãn theo giá của nhập khẩu và lấy giá trị tuyệt đối của tổng này thì kết quả phải lớn hơn 1.
Ngược lại, khi giá trị tuyệt đối của tổng hai độ co dãn theo giá của xuất khẩu cũng như nhập khẩu nhỏ hơn 1 thì cán cân thương mại sẽ bị xấu đi. Cuối cùng, cán cân thương mại không thay đổi nếu giá trị tuyệt đối của tổng hai độ co dãn này bằng 1. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Điều kiện này thường được viết dưới dạng |Ex|+|Em| > 1, với Ex và Em lần lượt là độ co giãn của xuất khẩu cũng như nhập khẩu theo giá. Theo Gartner (1993), giả định rằng điều kiện Marshall-Lerner là đúng thì chính sách tỷ giá liên quan đến phá giá đồng nội tệ của một quốc gia có thể giúp cải thiện tài khoản vãng lai của quốc gia đó.
Ở đây khi phá giá nội tệ, như đã phân tích ở trước, nhu cầu đối với hàng nội địa sẽ tăng và nhu cầu đối với hàng nhập ngoại sẽ giảm. Do đó khối lượng xuất khẩu sẽ tăng lên và khối lượng nhập khẩu có thể bị hạn chế lại. Tuy nhiên đó chỉ là về mặt khối lượng, còn về giá trị thì chưa hẳn là như vậy vì lí do là đồng nội tệ đang bị giảm giá. Do đó hiệu quả ròng của việc giảm giá này tới thương mại nói chung sẽ có quan hệ với các độ co dãn theo giá.
Trong trường hợp độ co giãn của hàng xuất khẩu theo giá lớn, thì tỷ lệ tăng khối lượng hàng hóa sẽ lớn hơn mức độ giảm giá làm cho lượng xuất khẩu sẽ tăng lên. Đồng thời nếu độ co giãn của hàng nhập khẩu theo giá là đáng kể, thì kim ngạch nhập khẩu giảm xuống. Kết hợp của những điều này là giúp cải thiện cán cân thương mại. Do đó để một động thái phá giá của chính phủ trở nên thành công (góp phần cải thiện cán cân xuất nhập khẩu) thì nó cần phải thỏa mãn điều kiện của Marshall và Lerner.
Hiệu ứng đường cong chữ J (hiệu ứng tuyến J) Điều kiện Marshall – Lerner chỉ đề cập tới tác động trong dài hạn của việc phá giá đồng nội tệ đối với thương mại. Các nghiên cứu gần đây lại có một cách tiếp cận toàn diện hơn, bằng cách chú ý nhiều hơn tới tác động ngắn hạn của sự thay đổi tỷ giá. Vào năm 1973, Stephen P Magee đã lần đầu tiên giới thiệu ra hiệu ứng đường cong J (J curve effect). Sau này đã có rất nhiều nghiên cứu khác về hiệu ứng này.
Đường cong J là một khái niệm trong kinh tế vĩ mô chỉ việc cán cân thương mại thay đổi theo hướng tiêu cực trong ngắn hạn và chỉ được phục hồi lại trong dài hạn. Chính vì việc cán cân xuất nhập khẩu ban đầu bị xấu đi trong ngắn hạn và dần được cải thiện nên trên đồ thị đường mô tả sự thay đổi của cán cân thương mại theo LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 thời gian sẽ có hình dạng tương tự với hình chữ J, do đó tên gọi này được sử dụng rộng rãi. Để tìm hiểu về đường cong J, cần tìm hiểu xem điều gì sẽ xảy ra ngay sau khi phá giá đồng nội tệ. Lúc này sẽ xảy ra đồng thời hiệu ứng giá cả cũng như hiệu ứng khối lượng như sau: Hiệu ứng giá cả: sau khi giảm giá đồng nội tệ, giá trị hàng xuất khẩu sẽ trở nên thấp hơn khi tính bằng ngoại tệ trong khi giá trị nhập khẩu sẽ trở nên cao hơn khi tính bằng nội tệ.
Đây là nguyên nhân làm cán cân thương mại bị xấu đi khi phá giá đồng nội tệ. Hiệu ứng khối lượng: sau khi giảm giá đồng nội tệ, hàng hóa xuất khẩu sẽ trở nên rẻ hơn tương đối so với hàng có xuất xứ từ nước ngoài, do đó nhu cầu đối với hàng xuất khẩu tăng làm khối lượng xuất khẩu tăng lên. Ở chiều ngược lại, hàng hóa nhập khẩu lại trở nên đắt đỏ nếu so sánh với hàng hóa thay thế ở trong nước, do đó nhu cầu trong nước với hàng nhập khẩu giảm làm khối lượng nhập khẩu giảm. Đây là nguyên nhân giúp cải thiện cán cân thương mại khi phá giá đồng nội tệ.
Như vậy hiệu quả ròng của việc giảm giá nội tệ lên thương mại sẽ chịu tác động cùng lúc của hai hiệu ứng giá cả và khối lượng. Các phân tích thực nghiệm đã cho thấy rằng, trong ngắn hạn hiệu ứng giá cả có xu hướng mạnh hơn hiệu ứng khối lượng. Trái lại hiệu ứng khối lượng có xu hướng lấn át hiệu ứng giá cả trong dài hạn. Trên thực tế tác động lên cán cân thương mại sẽ đảo chiều sau một khoảng thời gian hai đến ba năm.1: Hiệu ứng đường cong chữ J LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Dựa vào hình có thể thấy, sau khi có sự phá giá đồng nội tệ, cán cân thương mại sẽ phản ứng theo ba giai đoạn khác nhau: Trong ngắn hạn, ngay sau khi giảm giá đồng nội tệ thì các hợp đồng thương mại không thể ngay lập tức điều chỉnh, do đó giá cả và khối lượng hàng hóa đã được quy định sẵn từ trước khi có sự phá giá sẽ vẫn được giữ nguyên.
Cả nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu đều không thể thay đổi những điều khoản mà mình đã ký kết ngay trước đó, cho dù việc phá giá này của chính phủ sẽ diễn biến theo chiều hướng bất lợi cho họ. Lúc này do đồng nội tệ bị giảm giá, nhà nhập khẩu phải trả nhiều nội tệ hơn cho khối lượng hàng hóa đã định sẵn trong hợp đồng, do mức giá trong hầu hết các giao ước này được ấn định theo đồng ngoại tệ. Do vậy ngay lập tức cán tài khoản vãng lai suy giảm đi. Trong trung hạn, cả nhà nhập khẩu cũng như nhà xuất khẩu sẽ có thêm thời gian để điều chỉnh lại mức giá cả cũng như khối lượng hàng hóa trong những hợp đồng tiếp theo.
Lúc này sự gia tăng trong lượng nội tệ phải trả cho hàng nhập khẩu do ảnh hưởng của sự phá giá sẽ làm cho người tiêu dùng giảm nhu cầu với hàng ngoại và bắt đầu dịch chuyển sang sử dụng hàng trong nước. Tài khoản vãng lai khi đó sẽ dần được cải thiện trở lại. Tuy nhiên việc điều chỉnh này ít khi xảy ra ngay lập tức mà cần mất một vài năm để phát huy tác dụng. Trong dài hạn, một mặt người tiêu dùng sẽ có thêm thời gian để tiếp cận với cả hàng hóa trong nước và hàng hóa nước ngoài, sau đó có thể so sánh và đưa ra quyết định.
Mặt khác, các doanh nghiệp nội địa có nhiều thời gian cải thiện hệ thống nhằm gia tăng khối lượng cũng như chất lượng sản phẩm. Sản xuất được kích thích và sản lượng hàng trong nước bắt đầu có sự co giãn, hiệu ứng khối lượng lấn át hoàn toàn hiệu ứng giá cả trong dài hạn và cán cân thương mại tiếp tục thay đổi theo hướng tích cực làm hiệu ứng đường cong J ngày càng thể hiện rõ nét. Lý thuyết là như vậy, tuy nhiên trong thực tế sẽ có nhiều yếu tố làm cho hiệu ứng đường cong J mất rất nhiều thời gian để chuyển dấu từ âm (thâm hụt thương mại) sang dương (thặng dư thương mại), thâm chí trong nhiều trường hợp ở một số LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 quốc gia, hiệu ứng này còn gần như không thể xuất hiện. Một số nguyên nhân của điều này là: - Tâm lý ưa thích sử dụng hàng nhập khẩu: Ở một số quốc gia không có những thương hiệu trong nước đủ mạnh, người dân ở các nước này sẽ có tâm lý thích sử dụng hàng nhập khẩu hơn.
Khi đó độ co dãn của cầu đối với giá hàng nhập khẩu là rất nhỏ. Người tiêu dùng vẫn có xu hướng tiếp tục sử dụng hàng nhập khẩu cho dù giá hàng nhập khẩu có tăng cao hơn so với giá hàng sản xuất trong nước. Thêm vào đó, do những thương hiệu trong nước không đủ để thuyết phục người tiêu dùng nước ngoài sử dụng, số lượng hàng xuất khẩu cũng không thể tăng lên cho dù giá cả có cạnh tranh hơn. - Năng lực sản xuất hàng hóa trong nước.
Năng lực ở đây bao gồm cả về khối lượng và chất lượng sản xuất hàng hóa. Đầu tiên, không phải loại hàng hóa nào các doanh nghiệp nội địa cũng có thể sản xuất được và cho dù có sản xuất được thì có thể cũng chỉ được tiêu dùng trong nước chứ không đủ tiêu chuẩn để xuất khẩu.