Chương I là giới thiệu. Chương II là phần tổng quan các nghiên cứu trước đây và trình bày cơ sở lý luận. Chương III thể hiện dữ liệu và phương pháp nghiên cứu. Chương IV trình bày và đánh giá kết quả hồi quy.
Chương V cuối cùng là phần tổng kết, đánh giá những đóng góp của bài nghiên cứu, đồng thời chỉ ra những giới hạn của bài luận văn và định hướng nghiên cứu tiếp theo. 6 CHƯƠNG II – CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước đây Chỉ tiêu GDP trên người là một chỉ tiêu tăng trưởng theo chiều sâu, thể hiện mức sống và phúc lợi của người dân. Một sự tăng trưởng kinh tế bền vững là yếu tố vô cùng quan trọng để thay đổi tiêu chuẩn sống của người dân.
Trong nghiên cứu này, mức thu nhập thực tế bình quân đầu người được đo lường bằng mức GDP thực tế bình quân đầu người của mỗi quốc gia trong thời gian nghiên cứu từ năm 2004 đến năm 2015. Giá trị của GDP bình quân thực tế, được so sánh giữa các quốc gia bằng cách điều chỉnh ngang giá sức mua (PPP). Với sự nhấn mạnh về vai trò của tự do kinh tế trong việc xác định mức thu nhập thực tế bình quân đầu người và sự chênh lệch của nó giữa các quốc gia, các giả thuyết cơ bản nhất của nghiên cứu này là thu nhập bình quân đầu người thực tế phụ thuộc trực tiếp vào tự do kinh tế trong mỗi hình thức được nghiên cứu khác nhau của nó, khi các yếu tố khác không đổi. Ngoài ra, thu nhập thực tế bình quân đầu người được giả thuyết là một hàm nghịch chiều với doanh thu thuế - thể hiện như tỷ lệ phần trăm của GDP.
Vì tỷ lệ thuế trả cao hơn sẽ làm giảm thu nhập khả dụng và hạn chế khả năng mua hàng hoá và dịch vụ mới, do đó làm giảm hoặc hạn chế mức độ hoạt động kinh tế. Ngoài ra, thu nhập bình quân thực được giả thuyết là một hàm gia tăng với chất lượng điều hành của chính phủ khi chính phủ tạo điều kiện phát triển kinh doanh cho khu vực tư nhân và giảm sự hạn chế phát triển kinh tế thị trường. Các lý thuyết cũng như những nghiên cứu thực nghiệm gần đây về vấn đề này đã cho thấy những bằng chứng có ý nghĩa về việc khẳng định các mối quan hệ, giả thuyết được đặt ra bên trên và làm cơ sở cho bài nghiên cứu được thực hiện. Mối quan hệ giữa tự do kinh tế và thu nhập bình quân đầu người 2.
Tổng quan về tự do kinh tế Sự tăng trưởng, phát triển kinh tế là mục tiêu theo đuổi của các quốc gia trên thế giới với rất nhiều chỉ số được quan tâm đánh giá nhằm mục tiêu nâng cao thu nhập cũng như chất lượng sống cho quốc gia. Với mô hình kinh tế thị trường mà cốt lõi là mở rộng sự tự do kinh tế đã có những tác động tích cực đến nhiều lĩnh vực kinh tế xã hội, gia tăng việc làm, ổn định tiền tệ, nâng cao mức sống tại nhiều quốc gia trên thế giới. Đã có những tranh luận tương tự rằng gia tăng tự do kinh tế sẽ nâng cao sự tăng trưởng/ tốc độ của các hoạt động kinh tế thông qua việc khuyến khích làm việc, đầu tư, tiết kiệm, quyết định kinh doanh dựa trên thị trường và chấp nhận rủi ro trong một nền kinh tế thị trường. Năm tiêu chí đánh giá nền kinh tế thị trường của EC 1.
Mức độ ảnh hưởng của Chính phủ đối với việc phân bổ các nguồn lực và các quyết định của doanh nghiệp, bất kể là trực tiếp hay gián tiếp, chẳng hạn như thông qua việc áp dụng giá cả do Nhà nước ấn định, hoặc phân biệt đối xử trong chế độ thuế, thương mại hoặc tiền tệ. Không có hiện tượng Nhà nước can thiệp bóp méo hoạt động của các doanh nghiệp liên quan đến khu vực tư nhân hoá. Không sử dụng cơ chế thương mại phi thị trường hoặc các hệ thống đền bù (ví dụ như thương mại hàng đổi hàng). Ban hành và thực thi luật doanh nghiệp minh bạch và không phân biệt đối xử, đảm bảo quản lý doanh nghiệp một cách thích hợp (áp dụng các tiêu chuẩn kế toán quốc tế, bảo vệ cổ đông, đầy đủ thông tin chính xác về doanh nghiệp).
Ban hành và áp dụng một hệ thống luật thống nhất, hiệu quả và minh bạch đảm bảo tôn trọng quyền sở hữu tài sản và đảm bảo sự vận hành của quy chế phá sản doanh nghiệp. Tồn tại một khu vực tài chính đích thực hoạt động độc lập với Nhà nước, với đầy đủ các quy định về các biện pháp đảm bảo tín dụng và giám sát điều chỉnh về mặt pháp luật cũng như trên thực tế. 8 Sáu tiêu chí đánh giá nền kinh tế thị trường của Bộ Thương mại Hoa Kỳ 1. Khả năng chuyển đổi của đồng tiền 2.
Tự do thoả thuận mức lương 3. Đầu tư nước ngoài 4. Sở hữu hoặc quản lý của Nhà nước đối với các ngành sản xuất 5. Quản lý của Nhà nước đối với sự phân bổ các nguồn lực 6.
Các yếu tố thích hợp khác Dựa trên các tiêu chí trên có thể thấy một nền kinh tế thị trường được ưu tiên bởi sự hạn chế can thiệp của chính phủ dưới nhiều hình thức khác nhau, thì trường hoạt động hiệu quả, đồng tiền lưu động tự do trong thị trường vốn, khu vực tài chính minh bạch cao. Mấu chốt chính của nền kinh tế thị trường nói chung là sự tự do kinh tế ở nhiều mặt. Tư tưởng tự do và lý tưởng tư bản chủ nghĩa đã có từ thời Adam Smith, John Locke hay Milton Friedman. Cơ chế kinh tế của nền kinh tế thị trường được Adam Smith ví như “bàn tay vô hình” điều tiết nền kinh tế, làm gia tăng giàu có cho các quốc gia.
Tự do thương mại là công cụ để tạo ra tăng trưởng kinh tế (David Ricardo, 1821-1912). Milton Friedman cũng đã nhấn mạnh rằng tự do kinh tế thực sự đã mang lại hiệu quả về mặt kinh tế nhiều hơn so với phương pháp khác trong việc kiểm soát hoạt động kinh tế (Gwartney, 1996). Khi nói đến kinh tế thị trường là nói đến nguyên tắc “tự do kinh tế”, bao gồm quyền tự do trong kinh doanh, tự do thương mại, tự do về thuê lao động, lựa chọn công việc, tự do tiêu dùng, …. Nền kinh tế khi đó hội tụ đủ các yếu tố có thể đạt đến sự “tự do kinh tế” và hạn chế sự can thiệp vào thị trường tự nhiên cũng như hoạt động kinh doanh của tư nhân.
Đồng thời, chính phủ thực hiện tốt nhiệm vụ của mình, tạo hành lang pháp lý hiệu quả thúc đẩy phát triển kinh doanh tư nhân. Tự do kinh tế không có nghĩa là không có sự can thiệp của chính phủ tuyệt đối, đó là sự tự do dưới pháp luật của chính phủ (Friedrich Hayek, Hiếp pháp tự do 1960). 9 Tự do kinh tế là quyền cơ bản của mỗi con người trong việc kiểm soát lao động và tài sản của chính mình. Trong một xã hội kinh tế tự do, cá nhân được tự do để làm việc, sản xuất, tiêu thụ và đầu tư theo bất kỳ cách nào họ muốn.
Trong xã hội kinh tế tự do, chính phủ cho phép lao động, vốn, và hàng hóa di chuyển tự do, và không được ép buộc hoặc hạn chế về tự do vượt ra ngoài phạm vi cần thiết để bảo vệ và duy trì sự tự do của chính nó. Tự do kinh tế mang lại sự thịnh vượng hơn. Tài liệu về chỉ số Tự do Kinh tế cho thấy các mối quan hệ tích cực giữa tự do kinh tế và một loạt các mục tiêu xã hội và kinh tế. Tự do kinh tế lý tưởng liên quan chặt chẽ với các xã hội lành mạnh, môi trường sạch hơn, của cải trên đầu người lớn hơn, con người phát triển, dân chủ và xoá đói giảm nghèo (Báo cáo của The Heritage Foundation 2016 diễn giải sự tự do kinh tế - Economic Freedom).
Tự do kinh tế sẽ tồn tại khi các cá nhân được quyền lựa chọn tham gia các giao dịch mà không gây tổn hại về người hoặc tài sản cho đối tượng khác (Báo cáo của Economic Freedom of the World 2016 của James Gwartney, Robert Lawson, Joshua Hall). Tóm lại, tự do kinh tế là một yếu tố quan trọng, có vai trò lớn trong nền kinh tế thị trường, mang lại sự tự do nhiều mặt cho các cá nhân dưới quy định tạo điều kiện của chính phủ. Hành động của chính phủ là cần thiết khi bảo vệ quốc gia, thúc đẩy phát triển hòa bình và tạo điều kiện kinh doanh hợp lý. Các thước đo tự do kinh tế Về cơ bản, có 4 thước đo tự do kinh tế: The Fraser Institute - Gwartney et al (1996) được công bố lần đầu tiên vào năm 1996 trong Economic Freedom of the World đo lường về mức độ của các chính sách và thể chế tại các quốc gia ủng hộ cho sự tự do kinh tế.
Cơ sở của tự do kinh tế là tự do cá nhân, trao đổi tự nguyện, thị trường linh hoạt, tự do cạnh tranh và quyền sở hữu tư nhân được đảm bảo. Tiêu chuẩn đo lường của thước đo này gồm kích thước của chính phủ; cơ cấu pháp lý và đảm bảo quyền sở hữu; quyền về tiền tệ; tự do trao đổi với nước ngoài và cuối cùng là quy định, tín dụng và kinh doanh. 10 Thước đo Heritage Foundation của tạp chí The Wallstreet Journal và The Heritage Foundation được công bố hàng năm. Đây là thước đo được sử dụng khá nhiều trong nghiên cứu với ưu điểm dữ liệu tổng hợp từ nhiều quốc gia và trong thời gian dài từ 1995.
Ngoài ra, dữ liệu luôn được cập nhật, cải tiến và liên tục đáp ứng nhu cầu nghiên cứu hiệu quả và nó chủ yếu dựa trên các biến số chính sách mà chính phủ có thể thực sự kiểm soát (Heckelman 2000). Năm 2016, 10 chỉ số tự do kinh tế được công bố cho 186 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới cùng những đánh giá khách quan, sát thực cho thấy một cái nhìn tổng thể về chỉ số tự do kinh tế của các quốc gia và khu vực.