Phần mở đầu - giới thiệu lý do chọn đề tài, xác định mục tiêu, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu, từ đó đưa ra dự kiến đóng góp của đề xe tal. Cơ sở lý luận, tổng quan nghiên cứu về trái phiếu doanh nghiệp và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, từ đó xây dựng giả thuyết nghiên cứu ở thị trường Việt Nam. Xây dựng các mô hình nghiên cứu liên quan dé xác định mối quan hệ giữa trái phiếu doanh nghiệp và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Thảo luận về các kết quả nghiên cứu sau khi chạy các mô hình.
Kết luận và kiến nghị cho doanh nghiệp và các bên liên quan. CƠ SỞ LÝ LUẬN, TONG QUAN NGHIÊN CỨU VA XÂY DỰNG GIÁ THUYÉT NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở lý luận về trái phiếu doanh nghiệp 2. Khái niệm Theo định nghĩa trong sách Financial Market and Instutation, trái phiếu là “chứng khoán nợ dài hạn được phát hành bởi các cơ quan chính phủ hoặc doanh nghiệp, Người phát hành trái phiếu có nghĩa vụ thanh toán lãi suất (hoặc coupon) định kỳ (chang hạn như hàng năm hoặc nửa năm) và mệnh giá (tiền gốc) khi đáo hạn.
Công ty phát hành phải có khả năng chứng minh trong tương lai các khoản thanh toán coupon và tiền gốc cho nhà dau tư, Các nhà đầu tư sẽ xem xết mua trái phiếu nếu lợi tức kì vọng từ việc đầu tư vào trái phiếu có thê bù đắp ruiro” (Jeff Madura, 2018). Theo diéu 4, khoản 3 Luật Chứng khoán năm 2019, trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyên và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần nợ của tô chức phát hành. Như vậy, có thê hiểu trái phiếu là một chứng chỉ vay nợ phản ánh mối quan hệ giữa người đi vay (chủ thể phát hành trái phiếu) và người cho vay (chủ sở hữu trái phiếu), trong đó chủ thể phát hành trái phiếu phải cam kết trả cho người sở hữu trái phiếu một số tiền nhất định, vào những khoảng thời gian xác định và phải trả lại tiền gốc khi khoản vay đến hạn. Có nhiều loại trái phiếu như trái phiếu Chính phủ, trái phiếu Kho bạc Nhà nước, trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu của các tổ chức tin dung., được phát hành dưới hình thức chứng chi vật chất hoặc phi vật chất.
Dù tôn tại ở hình thức nào thi chúng đêu bao gôm các nội dung sau: Mệnh giá: mệnh giá là số tiền ghi trên trái phiếu mà tổ chức phát hành cam kết sẽ trả cho người sở hữu trái phiếu vào ngày đáo hạn, nó được xem như là số nợ gốc. Mệnh giá trái phiếu là căn cứ dé xác định số lợi tức tiền vay (lợi tức trái phiếu) mà chủ thé phát hành trái phiếu phải trả. Lãi suất danh nghĩa: là lãi suất được ghi trên trái phiếu hoặc do chủ thê phát hành trái phiếu công bố. Trong từng loại trái phiếu đều có ghi lãi suất của người phát hành cam kết thực hiện trả cho người sở hữu vào một ngày xác định cụ thé.
Lãi suất của trái phiếu là tỷ lệ phần trăm giữa tiền lãi với tiền gốc của trái phiếu trong khoảng thời gian nhất định (thường được xác định là 1 năm). Kỳ han của trái phiếu: là khoảng thời gian từ thời điểm phát hành đến ngày đến hạn phải thanh toán trái phiếu của tổ chức phát hành. Hiện nay, việc phân chia trái phiếu phổ biến là trung hạn (từ 1 đến 10 năm) và dài hạn (trên 10 năm). Kỳ hạn của trái phiếu có ý nghĩa vô cùng quan trọng vì lợi tức của trái phiếu phụ thuộc nhiều vào thời hạn của nó.
Phân loại trái phiếu Theo Giáo trình thị trường chứng khoán (2009), trái phiếu được phân theo nhiều tiêu chí khác nhau: Theo chủ thể phát hành: Đây là hình thức phân loại phổ biến và được nhiều doanh nghiệp áp dụng nhất hiện nay, các loại trái phiếu theo chủ thể phát hành bao gồm: - Trai phiếu của Chính phủ và của chính quyền địa phương: phát hành nhăm đáp ứng những nhu cầu chỉ tiêu của Chính phủ, bù đắp sự thiếu hụt ngân sách hay xây dựng các công trình công cộng bằng cách huy động từ nguồn tiền nhàn rỗi trong dân và các tô chức kinh tế - xã hội. Trái phiếu chính quyền địa phương (ở nước ta là cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương), có thể phát hành trái phiếu dé huy động vốn đáp ứng nhu cau phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương. Trái phiếu doanh nghiệp: là loại trái phiếu được phát hành bởi doanh nghiệp nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH), công ty cô phần (CTCP) nhằm tăng nguồn vốn hoạt động. Trong trái phiếu doanh nghiệp còn được chia thành nhiễu loại hình trái phiếu nhỏ khác.
Trái phiếu ngân hàng hoặc tổ chức tài chính: các tô chức này có thé được phát hành trái phiếu nhằm tăng thêm vốn hoạt động. Theo lợi tức trái phiếu: Trái phiếu có lãi suất có định: là loại trái phiếu mà lãi suất trái phiếu được xác định cố định. Trái phiếu có lãi suất biến đổi hay trái phiếu có lãi suất thả nỗi: là loại trái phiếu mà lãi suất trái phiếu được tính theo số tham chiếu khác. Khi lãi suất tham chiếu biến đồi sẽ khiến lợi tức của trái phiếu biến đồi theo, tổng lợi tức cuối kỳ khi thanh toán ở mỗi kỳ là khác nhau.
Trái phiếu có lãi suất băng không: người mua trái phiếu sẽ không nhận được lợi tức vào cuối kỳ. Trái chủ (người sở hữu trái phiếu) có quyền mua trái phiếu với giá thấp hơn giá niêm yết nhưng cuối kỳ vẫn được thanh toán hoàn trả bằng mệnh giá phát hành. Theo mức độ đảm bảo thanh toán của người phát hành: Trái phiếu bảo dam: là loại trái phiếu mà người phát hành dùng một tài sản có giá trị làm vật đảm bảo cho việc phát hành. Trong trường hợp người phát hành mat khả năng thanh toán tiền lãi hoặc trả tiền gốc thì các trái chủ có quyên tịch thu và bán tài sản đó dé thu hồi lại số tiền người phát hành còn nợ (thông thường thực hiện qua người được các trái chủ ủy thác).
Trái phiếu đảm bảo thường bao gôm một sô loại chủ yêu sau: e Trái phiếu có tài sản cầm có: là loại trái phiếu bảo đảm rằng việc người pháthành cầm cô một bat độn gsản dé đảm bảo việc thanh toán cho trái chủ. Đề đảm bảo quyền lợi của trái chủ, đòi hỏi giá trị tài sản cầm cố phải lớn hơn tổng mệnh giá của các trái phiếu mà Công ty phát hành. e Trái phiếu bao dam bằng chứng khoán ký quỹ: là loại trái phiếu được bảo đảm bằng việc người phát hành thường là các doanh nghiệp đem ký quỹ dé chứng khoán dễ chuyên nhượng (thường là cổ phiếu và trái phiếu) mà doanh nghiệp sở hữu của Công ty khác để làm tài sản bảo đảm cho việc phát hành. Trái phiêu không đảm bao: là loại trái phiếu phát hành không có tài sản làm vật bảo đảm mà chỉ được bảo đảm bằng chính uy tín của người phát hành.
Loại trái phiếu này chỉ có ở những Công ty lớn, Công ty có daonh tiếng và loại Công ty thượng hạng. Theo hình thức trái phiếu: Trái phiếu vô danh: là những loại trái phiếu không có tên của người mua và số sách của nhà phát hành trái phiếu. Trái phiếu ghi danh: là những loại trái phiếu có tên của người mua va có tên trong số sách của nhà phát hành. Dựa theo tính chất của trái phiếu: Trái phiếu có thé chuyên đổi: là loại trái phiếu của CTCP cho phép trái chủ được quyên chuyên đổi trái phiếu sang cô phiếu (thông thường là cổ phiếu thường) của Công ty.
Tỷ lệ chuyền đổi và kỳ hạn chuyên đổi được ấn định ngay từ lúc phát hành trái phiếu và chỉ thay đồi khi Công ty phát hành có sự tách hoặc gộp cô phiếu. Trái phiếu có quyền mua cổ phiếu (Warrant Bond): là loại trái phiếu có kèm theo phiếu cho phép người chủ sở hữu quyền được mua một số lượng cô phiếu 10 nhất định của Công ty phát hành với một giá đã được xác định vào những thời kỳ nhất định. - _ Trái phiếu có thé mua lại: là loại trái phiếu mà khi phát hành có quy định trên trái phiếu cho phép người phát hành được quyên chuộc lại hay nói khác đi là được mua lại một phần hay toàn bộ trái phiếu trước khi trái phiếu đến hạn thanh toán. Ngoài các cách phân loại chủ yêu ở trên, người ta còn có nhiêu cách phân loại khác nhau như dựa theo mức độ rủi ro tín dụng, dựa vào phạm vi phát hành.
Trái phiếu doanh nghiệp 2. Khái niệm trái phiếu doanh nghiệp Trái phiếu doanh nghiệp không phải là một khái niệm mới, xa lạ, đã được dinh nghĩa trong nhiều nghiên cứu khác nhau từ những góc nhìn đa dạng. Theo quan diém của nhà phát hành, TPDN có thé được sử dụng đề huy động vốn đầu tư vào hoạt động kinh doanh, tái cấp vốn cho các khoản nợ hiện có và danh mục đầu tư nợ hiện có (Tendulkar & Hancock, 2014). Nghiên cứu của Tendulkar & Hancock (2014) cũng đưa ra định nghĩa theo quan điểm của nhà đầu tư: trái phiếu doanh nghiệp có thể được đầu tư riêng lẻ, như một phan của quỹ (quỹ trái phiếu) hoặc được sử dung dé củng cé các sản phẩm có cầu trúc như một cách dé đa dạng hóa rủiro đối tác.
Các nhà đầu tư trực tiếp vào trái phiếu doanh nghiệp chủ yếu là tô chức. Tuy nhiên, cả nhà đầu tư bán lẻ và tổ chức đều có thé chọn đầu tư vao các quỹ trái phiếu. Các nhà đầu tư có thé nam giữ trái phiếu cho đến khi đáo hạn (chiến lược mua và nắm giữ) và nhận thanh toán lợi tức, hoặc giao dịch trái phiếu trên thị trường thứ cấp. Về phía văn bản pháp luật của Nhà nước, Nghị định 163/2018/NĐ-CP giải thích trái phiếu doanh nghiệp “là loại chứng khoán có kỳ hạn từ 01 năm trở lên do II doanh nghiệp phát hành, xác nhận nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi và các nghĩa vụ khác (nếu có) của doanh nghiệp đối với nhà đầu tư sở hữu trái phiếu”.
Đặc điểm của trái phiếu doanh nghiệp Doanh nghiệp có thê huy động vốn băng trái phiếu doanh nghiệp qua nhiều hình thức như chứng chi, bút toán, ghi số. với điểm chung là thé hiện cam kết giữa các bên về thực hiện hợp đồng như trả lợi tức, trả tiền gốc hoặc các quyền lợi chuyển đổi khác. Trái phiếu doanh nghiệp cũng có những đặc trưng tương đồng với trái phiếu, được quy định tại Điều 6, Nghị định 163/2-2018/NĐ-CP: Kỳ hạn trái phiếu: do doanh nghiệp phát hành quyết định đối với từng dot phát hành căn cứ vào nhu câu sử dụng vôn của doanh nghiệp và tình hình thị trường.