Chương 1 đã giới thiệu lý do hình thành nghiên cứu, mục tiêu và phương pháp nghiên cứu. Trong chương 2 này, tác giả trình bày lý thuyết và đặc điểm các nghiên cứu trước có liên quan. Dựa trên các đặc điểm này tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu.1 Các khái niệm nghiên cứu 2.1 Trải nghiệm thương hiệu (Brand experience) De Chernatony và cộng sự (2011) mô tả thương hiệu là “một nhóm nhu cầu về chức năng và tình cảm cho phép các tổ chức có thể hứa hẹn về một trải nghiệm độc đáo và được mong đợi”. Vì vậy, nếu thương hiệu là một lời hứa về trải nghiệm độc đáo và được mong đợi thì trải nghiệm thương hiệu là việc thực hiện lời hứa đó thông qua trải nghiệm của khách hàng với thương hiệu.
Do đó, trải nghiệm thương hiệu là sự chuyển đổi giữa chiến lược thương hiệu và trải nghiệm của khách hàng (Da Motta Fihlo, 2012). Trải nghiệm của khách hàng được hiểu là những phản ứng nội tại và chủ quan của họ khi tiếp xúc trực tiếp, gián tiếp với một sản phẩm/thương hiệu/cửa hàng. Schmitt (2003) phân nhóm trải nghiệm khách hàng thành 5 loại, đó là: Giác quan, tình cảm, suy nghĩ, hành động, quan hệ xã hội. Brakus và cộng sự (2009) định nghĩa sự trải nghiệm thương hiệu là “những phản ứng nội tại và chủ quan của khách hàng (cảm giác, tình cảm và nhận thức), và những phản ứng hành vi được kích hoạt bởi các tác nhân thương hiệu liên quan đến nhận diện thương hiệu, bao gói, thiết kế, môi trường và truyền thông”.
Như vậy, sự trải nghiệm thương hiệu là một khái niệm đa tiêu thức bao gồm những phản ứng giác quan, tình cảm, suy nghĩ và hành vi của khách hàng được tạo ra bởi thương hiệu (Iglesias và cộng sự, 2011; Brakus và cộng sự, 2009). Trải nghiệm thương hiệu bao gồm các thành phần sau: Trải nghiệm cảm giác: Trải nghiệm thương hiệu cảm giác là những trải nghiệm có được từ năm giác quan (thị giác, khứu giác, thính giác, xúc giác và vị giác) được 8 cung cấp bởi một thương hiệu (Schmitt, 2003; Brakus & cộng sự, 2009). Trong ngành bán lẻ, các thông tin về cảm giác người tiêu dùng có được sẽ ghi nhớ và có khả năng những thông tin này là tăng ý định mua, mua lặp lại (Ishida & Taylor, 2011). Như vậy, trong mua sắm tại các cửa hàng bán lẻ, trải nghiệm cảm giác được thể hiện thông qua các kích thích từ cửa hàng đến các giác quan của khách hàng như: Bầu không khí của cửa hàng tạo ra xúc giác, cách bày trí cửa hàng kích thích thị giác.
Trải nghiệm cảm xúc: Cảm xúc có liên quan đến trải nghiệm sản phẩm khi người tiêu dùng thử các sản phẩm thời trang. Holbrook (1982), Mano và Oliver (1993) xác định những cảm xúc hưng phấn và niềm vui có ảnh hưởng lớn nhất lên kinh nghiệm của người tiêu dùng. Người tiêu dùng tham gia mua sắm những sản phẩm thời trang cao cấp thường có xu hướng muốn thể hiện trải nghiệm cảm xúc tích cực (Park, Kim, & Forney, 2006), thõa mãn động cơ mua sắm như là vui vẻ, hài lòng hay là để thư giãn. Trải nghiệm suy nghĩ: Khách hàng được kích thích tính sáng tạo và phát triển tư duy thông qua tương tác với thương hiệu (Schmitt, 2003; Brakus & cộng sự, 2009).
Những trải nghiệm sản phẩm có khả năng ảnh hưởng đến những kinh nghiệm trong tiêu dùng, những học hỏi của người tiêu dùng về sản phẩm. Những định hướng học tập và kinh nghiệm mua sắm có thể tạo cho người tiêu dùng thời trang những nhận thức sâu sắc về thương hiệu. Trải nghiệm hành vi: Trải nghiệm hành vi là những trải nghiệm khách hàng có được khi sử dụng thương hiệu. Cách tiếp cận để thay đổi hành vi liên quan đến hoạt động thường là động lực truyền cảm hứng và tự phát trong tự nhiên (Schmitt, 2003).
Hoạt động marketing bổ sung thêm các giá trị trải nghiệm hành vi hấp dẫn các hành vi thể chất, lối sống và mối quan hệ lẫn nhau giữa con người. Mặt khác, trang phục không chỉ thể hiện phong cách mà còn thể hiện cả lối sống của người mặc. Việc khoác lên người một bộ trang phục thương hiệu đẳng cấp không chỉ định hướng hành vi, phong cách phù hợp cho người mặc mà còn định hướng cả hành vi giao tiếp của người mặc với các đối tượng khác. Trải nghiệm quan hệ: Là những trải nghiệm mang tính kinh nghiệm xã hội.
Nó 9 tạo ra giá trị cho khách hàng bằng cách cung cấp bản sắc xã hội và ý thức về sự liên kết xã hội. Những trải nghiệm về sản phẩm vật chất là quan trọng đối với người tiêu dùng để thiết lập quan hệ với các sản phẩm (Schmitt, 2003).Trải nghiệm quan hệ đề cập đến liên kết của người tiêu dùng về thương hiệu với lợi ích hoặc giá trị cá nhân vượt hơn thuộc tính trực tiếp của sản phẩm (Orth & de Marchi, 2007).2 Lòng trung thành thương hiệu (Brand Loyalty) Lòng trung thành thương hiệu được định nghĩa như là một cam kết của khách hàng với sản phẩm/dịch vụ ưu thích, thể hiện qua hành vi mua lặp lại và không bị ảnh hưởng bởi những thay đổi trong nổ lực marketing (Algesheimer, 2005). Khách hàng trung thành sẵn sàng bỏ thời gian, chi phí để tìm kiếm thương hiệu mình yêu thích và họ ít nhạy cảm với các chương trình chiêu thị của đối thủ, đồng thời họ giới thiệu cho những người thân quen của họ, mang lại khách hàng mới cho công ty ( Aaker, 1991). Trong bối cảnh thị trường thời trang với cạnh tranh của nhiều thương hiệu, lòng trung thành đối với thương hiệu trở nên rất quan trọng để duy trì khách hàng và chiếm lĩnh thị trường.
Các nhà nghiên cứu thường thể hiện lòng trung thành của khách hàng như hành vi mua lặp lại, nhưng lòng trung thành của khách hàng cũng phản ánh trạng thái thái độ của khách hàng về ý định mua lại. Do đó, lòng trung thành có ít nhất hai thành phần thiết yếu đó là: thái độ và hành vi. Lòng trung thành hành vi phản ánh hành động của khách hàng và liên quan đến việc đo lường các giao dịch mua trước đây của cùng một thương hiệu hoặc cùng một bộ thương hiệu hoặc đo lường xác suất mua hàng trong tương lai được đưa ra trong các hành vi mua hàng trong quá khứ (Ehrenberg, 1988). Ngược lại, lòng trung thành về thái độ là khuynh hướng tâm lý của người tiêu dùng đối với cùng một nhãn hiệu hoặc nhãn hiệu và liên quan đến việc đo lường thái độ của người tiêu dùng (Fournier, 1998; Jacoby và Chestnut, 1978).
Cả lòng trung thành hành vi và lòng trung thành theo thái độ là những khái niệm quan trọng để hiểu mối quan hệ khách hàng lâu dài, đặc biệt khi sự nhấn mạnh không chỉ dừng lại ở việc hiểu các hành vi trong quá khứ mà còn dự đoán sự bảo trợ trong tương lai của khách hàng (Dick và Basu, 1994; Kumar và Shah, 2004; Pritchard và cộng sự, 1999).3 Cam kết tình cảm. Thuật ngữ “cam kết của khách hàng” bao gồm sự gắn bó về tâm lý và kinh tế mà khách hàng có thể có hướng tới một thương hiệu, cửa hàng hoặc sản phẩm cụ thể (Thomson và cộng sự, 2005). Theo Allen và Meyer (1990), cam kết tình cảm của khách hàng được định nghĩa là: “Cam kết tình cảm với một thương hiệu hoặc cửa hàng dựa vào sự gắn bó chặt chẽ của họ với cửa hàng hoặc thương hiệu đó”. Theo Kiesler (1971) khái niệm cam kết thuộc về khía cạnh tâm lý và định nghĩa của ông về sự cam kết là “các cam kết của cá nhân hoặc các hành vi bắt buộc”.
Mức độ cam kết phụ thuộc vào mối quan hệ, cảm giác kết nối và mong muốn duy trì mối quan hệ lâu dài của con người. Cunningham (1967) là một trong số ít nhà nghiên cứu đầu tiên xem cam kết tình cảm như tiền đề cho lòng trung thành. Bloemer và Kasper (1995), cũng đã có quan điểm tương tự về cam kết tình cảm; Mathew, Thomas và Khader (2011) và Verhoef (2003) Các phát hiện của Chaudhuri (1999) ủng hộ quan điểm này rằng khách hàng cam kết giúp cho lòng trung thành thương hiệu của khách hàng cao hơn thông qua những lời nói tích cực từ họ và giúp cho chi phí quảng cáo thấp hơn trong lâu dài. Dựa trên những lập luận này, cam kết là một sự gắn bó về tình cảm hoặc tâm lý với một thương hiệu của một nhóm sản phẩm (Lastovicka và Gardner 1977).
Bản chất của cam kết tình cảm là khách hàng đến để có được sự gắn kết tình cảm với đối tác của họ trong mối quan hệ tiêu dùng. Khi người tiêu dùng thích hay yêu thích thương hiệu hoặc nhà cung cấp dịch vụ, họ đang trải qua trạng thái tâm lý của cam kết tình cảm. Lòng trung thành của thương hiệu sẽ lớn hơn khi mối quan hệ với thương hiệu bền chặt hơn. Do đó, mối quan hệ giữa trải nghiệm thương hiệu và lòng trung thành với thương hiệu được nhìn thấy sẽ tăng cường khi khách hàng cam kết tình cảm với thương hiệu.
Cam kết của khách hàng đã được coi là tiền đề quan trọng đối với lòng trung thành của khách hàng (ví dụ: Thomson và cộng sự, 2005; Evanschitzky và Wunderlich, 2006).2 Tổng quan các nghiên cứu liên quan 2.1 Các nghiên cứu có liên quan Nghiên cứu của Brakus và cộng sự (2009). Brakus và cộng sự (2009) đã thực hiện một nghiên cứu đo lường trải nghiệm thương hiệu, đồng thời xem xét ảnh hưởng của trải nghiệm thương hiệu đến lòng trung thành thương hiệu. Nghiên cứu này khảo sát 209 sinh viên tại Mỹ về trải nghiệm của những thương hiệu như: Apple & Dell (máy tính), Fiji & Poland Spring (nước uống), Crew & Liz Clairborne (quần áo), Puma & New Balance (giày thể thao), Volkswagen & Saturn (xe hơi), New York Times & USA Today (báo chí). Nghiên cứu thực hiện đo lường trải nghiệm thương hiệu trên 4 thành phần: cảm giác, cảm xúc, suy nghĩ và hành vi của trải nghiệm thương hiệu với tính cách thương hiệu, sự hài lòng với thương hiệu và lòng trung thành thương hiệu.
Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra những ảnh hưởng tích cực của trải nghiệm thương hiệu đến lòng trung thành thương hiệu thông qua hai nhân tố trung gian là tính cách thương hiệu và sự hài lòng thương hiệu. Trực tiếp và gián tiếp ảnh hưởng của trải nghiệm thương hiệu trên mức độ trung thành là gần bằng nhau. 12 Chân Có năng Phấn khích Tinh tế Mạnh mẽ thành lực Cảm giác Tính cách thương hiệu Cảm xúc Lòng Trải Sự thỏa trung nghiệm mãn thành thương hiệu Suy nghĩ Hành vi Hình 2. 1: Mô hình của Brakus và cộng sự 2009 Nguồn: Brakus và cộng sự (2009) Nghiên cứu của Ramaseshan & Stein (2014).