Chương 1 - Giới thiệu về đề tài nghiên cứu: Nêu lý do thực hiện luận văn nghiên cứu; trình bày các mục tiêu, phạm vi và đối tượng nghiên cứu; nêu tóm tắt phương pháp nghiên cứu; nêu ý nghĩa thực tiễn. Chương 2 - Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu: Giới thiệu các khái niệm chính liên quan đến trải nghiệm thương hiệu, hình ảnh thương hiệu, tình yêu thương hiệu và truyền miệng tích cực. Ngoài ra, chương 2 xây dựng mô hình nghiên cứu đề nghị thông qua việc lập luận các giả thuyết, các mối quan hệ của các yếu tố trong mô hình đúc kết từ những nghiên cứu trước đó. Chương 3 - Phương pháp nghiên cứu: Trình bày các phương pháp được sử dụng phục vụ cho quá trình xử lý dữ liệu, phân tích kết quả; kiểm định các giả thuyết, các mối quan hệ của các yếu tố trong mô hình lý thuyết đã lập luận trong chương hai.
Chương 4 - Kết quả nghiên cứu: Trình bày kết quả thu được sau quá trình xử lý dữ liệu, phân tích kết quả, kiểm định giả thuyết bằng các phần mềm thống kê Statistical Package for the Social Sciences (SPSS) và Analysis of MOment Structures (AMOS). Cuối cùng là đưa ra kết luận về các mối liên hệ của các yếu tố. Chương 5 - Kết luận và hàm ý quản trị: Nội dung chương này trình bày các kết luận và hàm ý quản trị theo góc độ khoa học và thực tiễn dựa trên cơ sở kết quả được nêu trong chương trước. Chương 5 cũng trình bày một số điểm hạn chế của luận văn, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.
8 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN 2. Các khái niệm chính 2. Khái niệm về dịch vụ Vai trò của dịch vụ ngày càng được đánh giá cao hơn trong nền kinh tế thời hiện đại. Quan điểm kinh tế học cho rằng dịch vụ có thể được xem như hàng hóa phi vật chất.
Theo định nghĩa mở rộng hơn, dịch vụ là mọi hoạt động hay lợi ích do đối tượng này cung cấp cho đối tượng khác, đảm bảo rằng chủ thể cung cấp phải mang tính vô hình, không có quyền sở hữu vật chất hữu hình nào và quá trình tạo ra dịch vụ có hoặc không gắn với vật chất (Kotler, 2000). Tương đồng với quan điểm của Kotler, tổ chức American Marketing Association (tức Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ) định nghĩa rằng dịch vụ là hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng nhưng hoạt động này phải đảm bảo tính vô hình, có thể hoặc không gắn với vật chất nhưng phải không dẫn đến quyền sở hữu bất kỳ vật chất nào. Tóm lại, từ những khái niệm về dịch vụ trên cho thấy mỗi quan điểm đều có phát biểu theo khía cạnh đa dạng nhưng tổng kết lại thì khái niệm dịch vụ có thể được khái quát như sau: Dịch vụ là hoạt động nhằm đáp ứng những kỳ vọng, nhu cầu của khách hàng, mang tính vô hình, không thể tách rời khỏi nguồn gốc, không có tính ổn định về chất lượng, không có tính lưu trữ. Khái niệm dịch vụ ngân hàng bán lẻ Trong bối cảnh nền kinh tế hội nhập, nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng bán lẻ ngày gia tăng.
Khách hàng cá nhân là đối tượng mục tiêu của dịch vụ ngân hàng bán lẻ. Vì vậy, dịch vụ này thường có tính đơn giản, dễ sử dụng, có tần suất sử dụng thường xuyên. Dịch vụ ngân hàng bán lẻ thường cung cấp dịch vụ tiền gửi, vay vốn, mở thẻ tín dụng. Theo góc độ thông thường, hoạt động bán lẻ được hiểu là bán trực tiếp cho khách hàng là người tiêu dùng với số lượng nhỏ lẻ.
Trong khi, bán buôn là bán gián tiếp cho khách hàng là nhà phân phối của hàng hóa, dịch vụ đó. Thế nhưng cho đến nay, khái niệm dịch vụ ngân hàng bán lẻ vẫn chưa được định nghĩa một cách chính xác 9 do đặc thù của lĩnh vực tài chính. Khái niệm này được tiếp cận theo nhiều góc độ khác nhau. Ở nước ta, dịch vụ ngân hàng bán lẻ đóng vai trò chính trong việc gia tăng ưu thế cạnh tranh, phát triển thị phần tiềm năng, tạo ra doanh thu bền vững cho các ngân hàng.
Dịch vụ ngân hàng bán lẻ tạo ra điều kiện thuận lợi trong việc đa dạng hóa dịch vụ, cũng như mở ra cơ hội kinh doanh chéo với cá nhân và công ty vừa và nhỏ. Trong bối cảnh nghiên cứu này, khái niệm dịch vụ ngân hàng bán lẻ có thể được đúc kết như sau: dịch vụ ngân hàng bán lẻ là tất cả hoạt động về tiền tệ, tín dụng, thanh toán,… được cung cấp thông qua ngân hàng đến với khách hàng cá nhân nhằm thỏa mãn nhu cầu của họ, đồng thời tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng; quá trình cung cấp thông qua mạng lưới chi nhánh. Các loại dịch vụ phổ biến của ngân hàng bán lẻ như dịch vụ huy động vốn gồm có Dịch vụ tiền gửi, Dịch vụ phát hành chứng từ có mệnh giá để huy động vốn; Dịch vụ sử dụng vốn; Dịch vụ có thu phí; Dịch vụ ngân hàng điện tử (Dịch vụ Call center, Dịch vụ Phone banking, Dịch vụ Mobile banking, Dịch vụ Internet banking, Dịch vụ Home banking); Dịch vụ thẻ và Dịch vụ ngân quỹ. Thương hiệu (Brand) a.
Khái niệm thương hiệu Theo định nghĩa của Hiệp hội tiếp thị của Hoa Kỳ (AMA), được trích dẫn bởi Ghafoorzadeh (2013), thương hiệu là một tên gọi, thuật ngữ, thiết kế, biểu tượng hay bất kỳ yếu tố nào xác định hàng hóa hoặc dịch vụ của một người bán hoặc nhóm người bán. Một thương hiệu bao gồm logo rõ ràng, phông chữ, bảng màu sắc, các biểu tượng, âm thanh được phát triển để đại diện cho những giá trị, ý tưởng và thậm chí là tính cách tiềm ẩn; một thương hiệu là một trải nghiệm khách hàng thể hiện thông qua tập hợp hình ảnh và ý tưởng liên quan đến một biểu tượng như là một tên gọi, biểu tượng (logo), khẩu hiệu (slogan), hay bảng thiết kế. Sự phân biệt các sản phẩm hay dịch vụ của tổ chức với đối thủ cạnh tranh, cũng như việc góp phần nâng cao giá trị của sản phẩm được được xác định bởi một yếu tố duy nhất đó chính là thương hiệu (Eunjoo Cho, 2011). 10 Thương hiệu được xem là tập hợp những nhận thức trong tâm trí của khách hàng (Feldwick, 1996).
Cách định nghĩa này đánh giá thương hiệu dựa trên sự khác biệt của thương hiệu, liên quan đến những tác động của thương hiệu đến nhận thức, thái độ và hành vi của khách hàng. Dịch vụ ngân hàng mang những đặc điểm của dịch vụ như là không thể ghi nhãn, đóng gói, thể hiện hữu hình cho nên giá trị của thương hiện cần được nhận thức và tin tưởng bởi khách hàng (Cobb và Ruble, 1991). Thương hiệu của dịch vụ ngân hàng cũng được cấu thành bởi yếu tố cơ sở vật chất, con người, quy trình dịch vụ trong không gian dịch vụ (O’Cass và Grace, 2003). Dịch vụ tài chính ngân hàng với các đặc trưng của ngành dịch vụ không cho phép đóng gói, ghi nhãn và hiển thị sản phẩm nên giá trị thương hiệu phải được nhận thức và niềm tin của người tiêu dùng (Cobb và Ruble, 1991).
Các yếu tố thương hiệu được gắn liền với các yếu tố trong không gian dịch vụ bao gồm cả hữu hình lẫn vô hình: cơ sở vật chất, con người (nhân viên, khách hàng khác), quy trình thực hiện (O'Cass & Grace, 2003). Theo định nghĩa của AMA, khái niệm thương hiệu trong lĩnh vực dịch vụ ngân hàng là trải nghiệm khách hàng thể hiện thông qua tập hợp hình ảnh và ý tưởng liên quan đến ngân hàng đó, có thể bao gồm tên ngân hàng, các khẩu hiệu (slogan), các biểu tượng (logo), màu sắc chủ đạo,. để đại diện cho những giá trị, ý tưởng, tính cách thương hiệu của ngân hàng đó. Thương hiệu của ngân hàng giúp phân biệt các dịch vụ của ngân hàng này với các đối thủ cạnh tranh khác, đồng thời góp phần nâng cao giá trị dịch vụ của ngân hàng đó.
Sự phân cấp thương hiệu Sự phân cấp thương hiệu được tìm thấy trong nghiên cứu của Wijaya (2013), sự phân cấp này diễn ra theo 6 giai đoạn.1: Phân cấp thương hiệu (Wijaya, 2013) Giai đoạn thứ nhất: nhận thức thương hiệu. Giai đoạn này diễn ra khi thương hiệu vẫn đang trong giai đoạn đánh thức nhận thức của khách hàng, khi mà họ còn biết rất ít về thương hiệu. Trong lĩnh vực dịch vụ ngân hàng, khi khách hàng chưa biết hoặc biết rất ít về thương hiệu ngân hàng, khách hàng này được xem là đang ở giai đoạn nhận thức thương hiệu. Giai đoạn thứ hai: hiểu biết thương hiệu.
Giai đoạn này diễn ra khi khách hàng biết đến nhiều hơn về thuộc tính của thương hiệu. Trong giai đoạn này, khách hàng không chỉ nhận ra thương hiệu, mà họ còn tìm hiểu thêm về thương hiệu và sản phẩm. Trong lĩnh vực dịch vụ ngân hàng, khách hàng ở giai đoạn này đã có những hiểu biết tương đối về ngân hàng, thậm chí còn tìm kiếm thêm thông tin về các dịch vụ mà ngân hàng đang cung cấp. Ví dụ, khách hàng của các ngân hàng thường tìm hiểu thông tin về 3 lĩnh vực hoạt động chiến lược của các ngân hàng: Dịch vụ tài chính Cá nhân, Dịch vụ ngân hàng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, Ngân hàng Bán Buôn và Ngân hàng giao dịch.
Giai đoạn thứ ba: hình ảnh thương hiệu. Giai đoạn này xảy ra khi nhận thức thương hiệu trở thành một hình ảnh nhất định về thương hiệu trong tâm trí khách hàng. Ví dụ, khách hàng của các ngân hàng có thể nhớ đến hình ảnh uy tín, thông qua các biểu tượng. Giai đoạn thứ tư: trải nghiệm thương hiệu.
Ở giai đoạn này, khách hàng dùng thử sản phẩm hoặc tiếp xúc trực tiếp với thương hiệu. Nhờ đó, họ có được trải nghiệm 12 cụ thể, từ đó củng cố hình ảnh thương hiệu và hình thành ý nghĩa và cảm xúc liên quan đến thương hiệu. Ví dụ, ở giai đoạn này, khách hàng bắt đầu sử dụng các dịch vụ do ngân hàng cung cấp, đồng thời tiếp xúc nhiều hơn với thương hiệu thông qua các chi nhánh, phòng giao dịch, trang web, phần mềm ứng dụng Internet banking,. hay các chương trình quảng cáo, tiếp thị đa kênh.
Giai đoạn thứ năm: lòng trung thành đối với thương hiệu. Ở giai đoạn này, vị thế của thương hiệu được củng cố trong tâm trí và trái tim của khách hàng nhờ sự kết hợp giữa hình ảnh tích cực và trải nghiệm thú vị.