chương 1 Trong chương này nhóm tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài, giới thiệu tổng quan một số kết quả của những công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài, mục tiêu, đối tượng, phương pháp, phạm vi, ý nghĩa của nghiên cứu và kết cấu của đề tài. 11 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan về ngành hàng tiêu dùng nhanh Nhóm hàng tiêu dùng nhanh (FMCGs – Fast Moving Consumer Goods), hay còn gọi là hàng tiêu dùng đóng gói (CGP – Consumer Packed Goods), là những sản phẩm tiêu dùng được bán nhanh và có giá thành thấp, có thời gian sử dụng ngắn, chẳng hạn như nước giải khát, giấy vệ sinh, các hóa mỹ phẩm dùng trong nhà tắm, thực phẩm chế biến và các hàng tiêu dùng khác (Theo thời báo Kinh tế Sài Gòn, 2016). Các sản phẩm ngành này có đặc thù sức bán ra lớn do nhu cầu tiêu dùng cho các sản phẩm cao.
Do sản xuất số lượng khổng lồ và các bao bì đóng gói khối lượng nhỏ, phù hợp với mục đích sử dụng thường xuyên nên chi phí sản xuất và tiền lời trên từng sản phẩm sẽ thấp. Thời hạn sử dụng cho các sản phẩm do đó thấp nhưng bù lại hàng hóa được bán ra liên tục với lượng tiêu thụ lớn do khách hàng có khả năng mua lại cao hơn. Về các nhóm ngành hàng, công ty nghiên cứu thị trường Nielsen Việt Nam (gọi tắt là Nielsen Việt Nam) chia hàng tiêu dùng nhanh thành 5 nhóm lớn như sau: - Đồ uống bao gồm: bia, nước giải khác, nước uống tăng lực, nước uống thể thao, nước lọc đóng chai, nước uống cung cấp năng lượng, nước trái cây, trà túi lọc, trà chai, cà phê chai, cà phê bột. - Thực phẩm bao gồm: bánh quy, bánh & bánh xốp, snack, dầu ăn, mì ăn liền, tương ớt, kẹo gum, các thành phần cho bữa ăn được chuẩn bị sẵn, hạt nêm – bột ngọt.
- Sữa bao gồm: sữa bột, yagurt, sữa đặc có đường, sữa hộp/chai. - Sản phẩm chăm sóc gia đình bao gồm: bột giặt, nước xả vải, nước rửa chén, nước lau chùi nhà cửa, sản phẩm chai xịt diệt muỗi/gián, nhang chống muỗi, khăn giấy dùng trong nhà vệ sinh. - Sản phẩm chăm sóc cá nhân bao gồm: sản phẩm chăm sóc mặt, dầu gội, dầu xả, dầu tắm, kem đánh răng, bàn chải đánh răng, khăn giấy lau mặt, sản phẩm chăm sóc phụ nữ, nước súc miệng, chất khử mùi, kem dưỡng da - Thuốc lá và sản phẩm chăm sóc em bé. 12 Công ty nghiên cứu thị trường Kantar Worldpanel (gọi tắt là Kantar Worldpanel) cũng thể hiện quan điểm về phân loại các nhóm ngành qua các báo cáo cập nhật tình hình thị trường FMCG Việt Nam được công bố định kỳ trên trang web của công ty.
Theo đó, ngành hàng tiêu dùng nhanh gồm 5 nhóm chính: thức uống, sữa và sản phẩm từ sữa, thực phẩm đóng gói, sản phẩm chăm sóc cá nhân và sản phẩm chăm sóc gia đình. Theo báo cáo tổng quan thị trường hàng tiêu dùng Việt Nam quý 2/2015 của Nielsen, trong 5 nhóm ngành chính, nhóm sản phẩm đồ uống đóng góp 38% vào tổng doanh số bán hàng ngành hàng tiêu dùng nhanh đạt tốc độ tăng trưởng cao nhất với mức 6,7% trong quý 2 (Theo Nielsen Việt Nam, 2015). Sự phát triển của sản phẩm đồ uống chủ yếu đến từ bia, nước uống tăng lực và nước uống thể thao. Tiếp theo sau đồ uống, nhóm ngành sữa và thực phẩm đạt mức đóng góp tương ứng là 16% và 15% và tổng doanh thu ngành.
Tuy vậy, 2 nhóm ngành này vẫn gặp nhiều thách thức với tỉ lệ tăng trưởng sụt giảm mạnh.1: Đóng góp và tốc độ tăng trưởng của nhóm ngành hàng nước giải khát, thực phẩm và sữa ở 6 thành phố lớn (Nguồn: Nielsen Việt Nam, 2015) Nhìn chung, thị trường ngành hàng tiêu dùng nhanh Việt Nam năm 2015 đã gặp nhiều thách thức như tăng trưởng không ổn định (mức tăng trưởng đạt 13 3,4% vào quý 1/2015 sau đó giảm mạnh còn 0,9% vào quý 2 và đạt mức ở quý 3 năm 2015), niềm tin người tiêu dùng và nhà bán lẻ "không vững vàng" (Theo Nielsen Việt Nam, 2016b). Tuy nhiên, trong quý 2 năm 2016, ngành hàng tiêu dùng nhanh tại 6 thành phố lớn của Việt Nam (Hà Nội, Tp. HCM, Hải Phòng, Cần Thơ, Nha Trang và Đà Nẵng) đã tăng mạnh mẽ với mức tăng trưởng 6,3% - mức tăng trưởng cao nhất trong suốt 3 năm vừa qua (Theo Nielsen Việt Nam, 2016a). Ngày 19/5/2015, Kantar Worldpanel công bố các thương hiệu được chọn mua nhiều nhất tại Việt Nam năm 2015.1 bên dưới, Unilever, Vinamilk và Masan là 3 nhà sản xuất sở hữu các thương hiệu được chọn mua nhiều nhất tại Việt Nam.
Unilever dẫn đầu bảng xếp hạng tại nông thôn trong khi Vinamilk dẫn đầu tại thành thị (4 thành phố chính). Masan lần lượt giữ vị trí thứ hai tại nông thôn và vị trí thứ ba tại thành thị. Cả ba nhà sản xuất đều có mức độ thâm nhập thị trường cao, tiếp cận gần như 100% số hộ gia đình Việt Nam. Hai trong nhóm 3 dẫn đầu bảng xếp hạng đều là các nhà sản xuất trong nước – Vinamilk và Masan cùng nhau chiếm lĩnh thị trường thức uống và thực phẩm trong khi đó Unilever – nhà sản xuất FMCG toàn cầu lại sở hữu những thương hiệu hàng đầu trong ngành hàng chăm sóc sức khỏe – sắc đẹp và chăm sóc gia đình.1: Bảng xếp hạng 10 nhà sản xuất hàng đầu ở Việt Nam năm 2015 THÀNH THỊ 4 THÀNH PHỐ CHÍNH NÔNG THÔN Xếp CRP Xếp CRP hạng Nhà sản xuất (Triệu hạng Nhà sản xuất (Triệu 2014 điểm) 2014 điểm) 1 Vinamilk 70,3 1 Unilever 388,3 2 Unilever 56,9 2 Masan 357,2 3 Masan 40,2 3 Vinamilk 214,9 4 Vina Acecook 23,4 4 Vina Acecook 126,2 5 Nestle 23,2 5 Asia Foods 116,1 6 Suntori PepsiCo 22,0 6 Calofic 91,6 7 FrieslandCampina 20,6 7 Ajnomoto 93,3 14 THÀNH THỊ 4 THÀNH PHỐ CHÍNH NÔNG THÔN Xếp CRP Xếp CRP hạng Nhà sản xuất (Triệu hạng Nhà sản xuất (Triệu 2014 điểm) 2014 điểm) 8 P&G 18,3 8 P&G 84,5 9 Ajinomoto 14,1 9 Liwayway 77,3 10 Calofic 13,8 10 FrieslandCampina 67,6 (Nguồn: BrandsVietnam, 2015) 2.
Lý luận về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 2. Khái niệm Theo Carroll (1999), vấn đề TNXH của doanh nghiệp đã xuất hiện từ đầu những năm 1930. Tuy nhiên, mãi cho đến những năm 1950 trở về sau, các lý thuyết, nghiên cứu và thực nghiệm về TNXH của doanh nghiệp mới được phát triển (Carroll, 1999). Nổi bật trong giai đoạn này là tác giả Bowen (1953) với quyển sách tựa đề “Trách nhiệm xã hội của doanh nhân”.
Trong quyển sách này, tác giả xác định TNXH của doanh nghiệp là nghĩa vụ của doanh nghiệp trong việc tuân thủ các chính sách, đưa ra quyết định hoặc theo đuổi một chuỗi hành động liên quan đến mục tiêu và giá trị mà xã hội mong muốn (Bowen, 1953). Trong suốt những năm 1950 đến 1980, định nghĩa và khái niệm cơ bản của thuật ngữ đã được mở rộng bởi nhiều nhà nghiên cứu (Carroll, 1999). Tuy nhiên, những nghiên cứu được thực hiện vào thời gian sau đó, những năm 1990, hầu như đều đi sâu vào các chủ đề khác liên quan đến TNXH của doanh nghiệp như các bên liên quan, đạo đức kinh doanh,… (Carroll, 1999) chứ chưa đưa ra thêm định nghĩa nào về thuật ngữ này. Các nghiên cứu trong những thập kỷ gần đây liên quan đến TNXH của công ty trong các hoạt động tài chính và cốt lõi lả lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp (Carroll, 1999; Gupta, 2002).
Những nghiên cứu gần đây nhấn mạnh việc sử dụng các TNXH như là một chiến lược marketing. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng người tiêu dùng rất quan tâm và chú ý đến các công ty có đóng góp cho sự tiến bộ của xã hội (Gupta, 2002; Kinard và cộng sự, 2003). Kinard và cộng sự (2003) nhấn mạnh việc các công ty cần chú ý và quan tâm đến sự tiến bộ của xã hội. Ông còn cho rằng 15 doanh nghiệp phải nỗ lực làm giảm các vấn đề xã hội còn tồn tại như ung thư, môi trường, lao động trẻ em và quyền con người bởi vì người tiêu dùng toàn cầu đang để tâm, chú ý và đưa ra quyết định mua hàng dựa trên việc thực hiện TNXH của doanh nghiệp.
Lantos (2001) cho rằng TNXH của doanh nghiệp là nghĩa vụ của doanh nghiệp làm sao tối đa hóa các tác động tích cực và tối thiểu hóa tác động tiêu cực trong quá trình đóng góp cho xã hội, phải quan tâm đến những mong muốn và nhu cầu của xã hội. Còn theo Kotler và Lee (2005), TNXH của doanh nghiệp là sự cam kết để cải thiện phúc lợi cộng đồng thông qua hoạt động kinh doanh và những đóng góp tùy ý của doanh nghiệp. Theo Ngân hàng Thế giới (World Bank) năm 2004, TNXH của doanh nghiệp là sự cam kết của doanh nghiệp đóng góp vào sự phát triển kinh tế bền vững, phối hợp với người lao động, gia đình của họ, cộng đồng địa phương và xã hội nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống theo hướng có lợi cho việc kinh doanh cũng như sự phát triển chung. Theo Ủy ban Thương mại thế giới về phát triển bền vững (World Business Council for Sustainable Development - WBCSD) năm 1998, TNXH của doanh nghiệp là sự cam kết liên tục của doanh nghiệp thông qua hoạt động kinh doanh bằng cách cư xử nhân văn và đóng góp cho sự phát triển kinh tế đồng thời với quá trình cải thiện chất lượng cuộc sống của người lao động và gia đình họ cũng như của cộng đồng địa phương và toàn xã hội nói chung.
Doanh nghiệp không chỉ đơn thuần là một tổ chức thu lợi nhuận mà còn cần phải trở thành một phần của cộng đồng. Tóm lại, tuy có nhiều quan điểm được trình bày khác nhau, song xét về bản chất, chúng đều mang hàm ý giống nhau. Để tồn tại lâu dài, doanh nghiệp phải tạo ra các lợi ích đa bên, phải thể hiện sự quan tâm của mình đến khách hàng, người lao động, cổ đông, cộng đồng và môi trường. Các thành phần thuộc TNXH của doanh nghiệp Theo Carroll (1979), TNXH là một công cụ bao gồm những kỳ vọng kinh tế, pháp lý, đạo đức và đóng góp xã hội từ các tổ chức tại một thời điểm nào đó.
Carroll (1979) lập luận rằng những trách nhiệm này không chỉ phục vụ vì lợi ích 16 của tổ chức mà còn phải có giá trị đối với xã hội. Nó tạo ra một thỏa thuận xã hội giữa các tổ chức và các bên liên quan buộc các tổ chức phải xem xét khi đưa ra quyết định (Andreasen và Gerbing, 2001).