đặt vấn đề nghiên cứu; mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu của đề tài; phạm vi và đối tượng nghiên cứu; ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu và cuối cùng là tổng quan về thị trường nghiên cứu. Chương II: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Trong chương này trình bày cơ sở lý thuyết về đề tài bao gồm: trải nghiệm thương hiệu, sự hài lòng và lòng trung thành của người tiêu dùng đối với thương hiệu, tổng quan các công trình nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến đề tài. Trên cở sở đó đề xuất mô hình và các giả thuyết nghiên cứu của mình. Chương III: Phương pháp nghiên cứu Trong chương này trình bày thiết kế nghiên cứu được sử dụng, nội dung của chương này bao gồm: toàn bộ quy trình thực hiện nghiên cứu, các thang đo, phương pháp khảo sát, quy mô và đặc điểm mẫu khảo sát, phương pháp xử lý dữ liệu.
Ngoài ra, thiết kế nghiên cứu định tính và định lượng cũng được trình bày trong chương này. Chương IV: Kết quả nghiên cứu Chương này sẽ trình bày kết quả nghiên cứu chính thức của đề tài bao gồm: kết quả thống kê mô tả mẫu nghiên cứu, kết quả kiểm định các thang đo nghiên cứu, kết quả kiểm định mô hình và các giả thuyết nghiên cứu đề xuất trong chương 2. Chương V: Kết luận và kiến nghị Chương này thảo luận kết quả nghiên cứu của đề tài có được ở chương 4. Đồng thời, dựa trên kết quả nghiên cứu này đưa ra các hàm ý cho nhà quản 7 trị, đồng thời nêu lên những hạn chế của đề tài cũng như các hướng nghiên cứu tiếp theo.
8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương này tác giả trình bày cơ sở lý thuyết về trải nghiệm thương hiệu, sự hài lòng và lòng trung thành của người tiêu dùng đối với thương hiệu. Trước tiên, thực hiện lược khảo lý thuyết bao gồm 02 nội dung: (i) mô hình lý thuyết, khái niêm và (ii) các nghiên cứu thực nghiệm liên quan. Trên cơ sở đó, mô hình và các giả thuyết nghiên cứu được đề xuất. Các khái niệm chính trong nghiên cứu 2.
Trải nghiệm thương hiệu Hầu hết các nghiên cứu về sự trải nghiệm cho đến nay đều tập trung vào các thuộc tính sản phẩm thực dụng và trải nghiệm dịch vụ, chứ không tập trung vào trải nghiệm được cung cấp bởi các thương hiệu. Trải nghiệm thương hiệu là một lĩnh vực mới nổi trong các tài liệu tiếp thị có thể mang lại sự hài lòng và khơi gợi lòng trung thành từ khách hàng (Brakus và cộng sự, 2009). Theo Alloza (2008), trải nghiệm thương hiệu có thể được định nghĩa là nhận thức của người tiêu dùng, tại mọi thời điểm tiếp xúc với thương hiệu, cho dù đó là hình ảnh thương hiệu được chiếu trong quảng cáo, trong lần tiếp xúc cá nhân đầu tiên hoặc liên quan đến việc đối xử cá nhân mà họ nhận được. Trải nghiệm thương hiệu được tạo ra khi khách hàng sử dụng thương hiệu, nói chuyện với người khác về thương hiệu, tìm kiếm thông tin thương hiệu, chương trình khuyến mãi và sự kiện, … (Ambler và cộng sự, 2002).
Các nhà tiếp thị phải gắn kết thương hiệu với người tiêu dùng bằng cách xây dựng các trải nghiệm thương hiệu toàn diện (Pine và Gilmore, 1999). Các hoạt động tiếp thị liên quan đến thương hiệu, ảnh hưởng đến tư duy của người tiêu dùng đối với thương hiệu, những gì họ biết và cảm nhận về thương hiệu. Khách hàng đặt mọi thứ trong tâm trí của họ như suy nghĩ, cảm xúc, trải nghiệm, hình ảnh, nhận thức, niềm tin, thái độ,… đối với một thương hiệu (Ambler, 1997). Khi người tiêu dùng tìm kiếm, mua sắm và tiêu thụ các nhãn hiệu, họ sẽ tiếp xúc với các thuộc tính sản phẩm thực tế, tuy nhiên, họ cũng tiếp xúc với các kích 9 thích liên quan đến thương hiệu cụ thể khác nhau, chẳng hạn như màu sắc nhận diện thương hiệu (Belizzi và Hite, 1992; Gorn và cộng sự, 1997), hình dạng, kiểu chữ, yếu tố thiết kế nền (Mandel và Johnson, 2002), khẩu hiệu, linh vật và nhân vật thương hiệu (Keller, 1987; Brakus và cộng sự, 2009).
Những kích thích liên quan đến thương hiệu này xuất hiện như một phần của thiết kế và bản sắc của thương hiệu (ví dụ: tên, logo, bảng hiệu), bao bì và truyền thông tiếp thị (ví dụ: quảng cáo, tài liệu quảng cáo, trang web) và trong các môi trường mà thương hiệu được bán (ví dụ: cửa hàng, sự kiện). Những kích thích liên quan đến thương hiệu này tạo thành nguồn chủ yếu của phản ứng tiêu dùng chủ quan nội bộ, được gọi là "trải nghiệm thương hiệu" (Brakus và cộng sự, 2009). Trải nghiệm thương hiệu đã được nghiên cứu trong các bối cảnh khác nhau, Iglesias và cộng sự (2011) đã xác minh mức độ trải nghiệm thương hiệu đối với các sản phẩm khác nhau (xe hơi, máy tính xách tay và giày thể thao) và giải thích tác động của chúng đối với lòng trung thành của thương hiệu. Ishida và Taylor (2012) đã kiểm tra cấu trúc trải nghiệm thương hiệu trong bán lẻ và xác minh ba khía cạnh trải nghiệm thương hiệu (giác quan, hành vi và cảm nhận), đồng thời đề xuất hướng nghiên cứu mới để khám phá các thuộc tính trải nghiệm bổ sung từ tài liệu bán lẻ.
Hơn nữa, Nysveen và cộng sự (2014) đã thử nghiệm thang đo trải nghiệm thương hiệu của Brakus và cộng sự (2009) trong lĩnh vực dịch vụ (di động, truyền hình và băng thông rộng) và đề xuất thêm một khía cạnh trải nghiệm thương hiệu nữa, đó là trải nghiệm quan hệ. Gần đây, Barnes và cộng sự (2014), đã xem xét trải nghiệm thương hiệu cho các thương hiệu du lịch và nhận thấy yếu tố cảm nhận là quan trọng nhất. Trong việc phát triển thang đo trải nghiệm thương hiệu, Brakus và cộng sự (2009) đã phân tích các mô tả của người tiêu dùng về trải nghiệm thương hiệu cho nhiều loại thương hiệu khác nhau (cả thương hiệu hàng hóa và dịch vụ) trong số đó là một vài thương hiệu bán lẻ. Tuy nhiên, do số lượng thương hiệu bán lẻ ít hơn, không rõ liệu quy mô trải nghiệm thương hiệu (Brakus và cộng 10 sự, 2009) có thể hữu ích trong bối cảnh bán lẻ hay không.
Sau đó, Ishida và Taylor (2012) đã thử nghiệm tính hữu ích của quy mô trải nghiệm thương hiệu trong bối cảnh bán lẻ và nhận thấy rằng bán lẻ đòi hỏi một cái nhìn đặc biệt về trải nghiệm thương hiệu. Ishida và Taylor (2012) nhấn mạnh sự cần thiết phải phát triển sự hiểu biết thêm về trải nghiệm thương hiệu trong bán lẻ và đề xuất rằng có thể xem xét mở rộng hoạt động nghiên cứu trải nghiệm thương hiệu dành riêng cho bán lẻ hơn việc sử dụng trong nghiên cứu của Brakus và cộng sự (2009). Trải nghiệm thương hiệu là một nguồn thông tin cá nhân có thể được sử dụng để hình thành cơ sở cho các quyết định trong tương lai, chẳng hạn như ý định mua lại (Brakus và cộng sự, 2009). Khái niệm này được Sahin, Zehir và Kitapç (2011) ủng hộ, những người phát hiện ra rằng kinh nghiệm trước đây với dịch vụ có tác động đáng kể đến sự lựa chọn thương hiệu cho các lần mua dịch vụ tiếp theo.
Do đó, thái độ đối với thương hiệu chủ yếu được hình thành sau lần mua đầu tiên, đánh giá này lần lượt được sử dụng từ những lần đánh giá trước cho lượt mua lặp lại. Do đó, lòng trung thành thương hiệu được phát triển thông qua trải nghiệm thương hiệu theo thời gian (Ercis, Unal, Candan và Yildrinm, 2012). Phù hợp với khái niệm này là những phát hiện cho thấy rằng trải nghiệm trước càng thường xuyên, thái độ càng mạnh mẽ (Grace và O hèCass, 2004). Do đó, sự hiểu biết về vai trò của trải nghiệm trước đây đối với quyết định mua hàng là rất quan trọng đối với sự phát triển của lòng trung thành thương hiệu.
Trải nghiệm thương hiệu nhà bán lẻ Xem nhà bán lẻ như một thương hiệu là một trong những xu hướng hàng đầu trong ngành bán lẻ (Grewal và cộng sự, 2004). Theo quan điểm của Ailawadi và Keller (2004), một thương hiệu bán lẻ xác định hàng hóa và dịch vụ phân biệt chúng với các đối thủ cạnh tranh. Zentes và cộng sự (2008) định nghĩa thương hiệu bán lẻ là một nhóm các cửa hàng của nhà bán lẻ mang tên, 11 biểu tượng, logo hoặc sự kết hợp độc đáo của họ. Các thương hiệu bán lẻ khác với các nhãn hiệu sản phẩm và điều này mang lại sự khác biệt trong việc áp dụng nhiều nguyên tắc thương hiệu, mặc dù một số có thể giống nhau (Ailawadi và Keller, 2004).
Bản chất của thương hiệu bán lẻ là đa giác quan hơn so với các thương hiệu sản phẩm, khiến thương hiệu bán lẻ phải dựa vào trải nghiệm khách hàng phong phú. Chẳng hạn, trải nghiệm của khách hàng với một thương hiệu bán lẻ liên quan đến việc thương lượng khách hàng khi đi qua cửa hàng, tương tác với một số nhân viên cửa hàng trên đường đi, tìm hàng hóa họ muốn và trả lại hàng hóa (Baron và cộng sự, 2001). Các nhà bán lẻ áp dụng các cách khác nhau để xây dựng thương hiệu của họ như chất lượng dịch vụ, giá cả và chính sách giá, phân loại sản phẩm và hàng hóa của họ (Ailawadi và Keller, 2004). Trên thực tế, thương hiệu bán lẻ đóng vai trò mang lại trải nghiệm mua sắm thú vị, điều này ảnh hưởng đến sự hài lòng và lòng trung thành của khách hàng (Baron và cộng sự, 2001).
Sự tham gia của khách hàng với một số hoạt động trong các giai đoạn lựa chọn, mua và đăng bán lẻ mang lại trải nghiệm toàn diện quyết định sự hài lòng của họ với nhà bán lẻ và ảnh hưởng đến ý định xem xét lại của họ (Bagdare và Jain, 2013). Berry và cộng sự (1990) đề xuất rằng bán lẻ là việc tạo ra tổng trải nghiệm của khách hàng bằng cách cho phép khách hàng giải quyết các vấn đề quan trọng, tận dụng sức mạnh của sự tôn trọng, kết nối với cảm xúc của khách hàng, nhấn mạnh giá cả hợp lý và tiết kiệm thời gian và năng lượng của khách hàng. Quan điểm kinh nghiệm trong bán lẻ cũng có thể được quan sát trong năm chủ đề khác nhau, đó là tiêu dùng trải nghiệm, bán lẻ giải trí, tiêu dùng tượng trưng, mua sắm chéo và bán lẻ theo chủ đề (Kim, 2001). Hơn nữa, ủng hộ quan niệm về kinh nghiệm trong bán lẻ, Ailawadi và Keller (2004) lập luận rằng các nhà bán lẻ của rõ ràng đang ở một vị trí lý tưởng để tạo ra những trải nghiệm có thể liên quan đến thương hiệu riêng của họ, nhãn hiệu nhà sản xuất hoặc không bị ràng buộc với sản phẩm cụ thể.