CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Tổng quan về dịch vụ logistics 1. Khái niệm logistics Logistics là một thuật ngữ có nguồn gốc Hy Lạp - logistikos - phản ánh môn khoa học nghiên cứu tính quy luật của các hoạt động cung ứng và đảm bảo các yếu tố tổ chức, vật chất và kỹ thuật (do vậy, một số từ điển định nghĩa là hậu cần) để cho quá trình chính yếu được tiến hành đúng mục tiêu. Công việc logistics hoàn toàn không phải là lĩnh vực mới mẻ.
Từ thủa xa xưa, sau mùa thu hoạch người ta đã biết cách cất giữ lương thực để dùng cho những lúc giáp hạt. Tơ lụa từ Trung Quốc đã tìm được đường đến với khắp nơi trên thế giới. Nhưng do giao thông vận tải và các hệ thống bảo quản chưa phát triển, nên các hoạt động giao thương còn hạn chế. Thậm chí, ngày nay ở một vài nơi trên thế giới vẫn còn những cộng đồng sống theo kiểu tự cung tự cấp, mà không có trao đổi hàng hoá với bên ngoài.
Lý do chính là ở đó thiếu một hệ thống hậu cần phát triển hợp lý và hiệu quả (lack of well- developed and inexpensive logistics system). Theo từ điển Oxford thì logistics trước tiên là "Khoa học của sự di chuyển, cung ứng và duy trì các lực lượng quân đội ở các chiến trường". Napoleon đã từng định nghĩa: Hậu cần là hoạt động để duy trì lực lượng quân đội, nhưng cũng chính do hoạt động hậu cần sơ sài đã dẫn đến sự thất bại của vị tướng tài ba này trên đường tới Moscow vì đã căng hết mức đường dây cung ứng của mình. Eccles (1954) viết trong “LOGISTICS--WHAT IS IT?”, logistics là một thuật ngữ trừu tượng thể hiện một thực tế rất thực tế.
Theo nghĩa trừu tượng của logistics, giống như chiến lược, chiến thuật, kinh tế và chính trị, logistics không dễ bị ảnh hưởng bởi một định nghĩa đơn giản và lâu dài duy nhất. Đúng hơn là logistics có thể được mô tả theo nhiều cách khác nhau bằng những thuật ngữ rất chung chung. Để hiểu được, thuật ngữ logistics phải được tiếp cận từ nhiều quan điểm khác nhau, và phải được thảo luận và mô tả bằng cách tham chiếu đến các thuật ngữ trừu tượng và vô hình khác. Theo Council of Supply Chain Management Professionals (2005), logistics được hiểu là quá trình lập kế hoạch, triển khai và giám sát hiệu quả và hiệu suất của luồng vận chuyển và lưu trữ trực tiếp và ngược trở lại của nguyên liệu thô, vật liệu trong quá trình sản xuất, sản phẩm và dịch vụ, và thông tin liên quan giữa điểm xuất phát và điểm tiêu thụ nhằm đáp ứng yêu cầu của khách hàng.
Straka (2013) định nghĩa “Logistics là một hệ thống trong đó tác động đến các yếu tố nhằm thiết lập luồng vật liệu, thông tin và tài chính được phối hợp, dẫn đến 6 sự hài hòa giữa chúng với mục đích đáp ứng yêu cầu của khách hàng và tạo ra hiệu quả kinh tế tương ứng.” Cho đến nay, khái niệm logistics đã mở rộng sang lĩnh vực kinh tế, mau chóng phát triển và mang lại thành công cho nhiều công ty và tập đoàn đa quốc gia nổi tiếng trên. Do đó, tổng hợp từ các tài liệu trên, logistics được hiểu là quá trình tối ưu hóa về vị trí, vận chuyển và dự trữ các nguồn tài nguyên từ điểm đầu tiên đến điểm cuối cùng của dây chuyền cung ứng cho tới tay người tiêu dùng cuối cùng, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế. Vai trò của dịch vụ logistics Trong nền kinh tế hiện đại yêu cầu cạnh tranh và hội nhập, các doanh nghiệp phải tham gia vào các chuỗi cung cấp giá trị nhằm vận dụng lợi thế cạnh tranh và thu được lợi nhuận qua việc tạo ra giá trị gia tăng.Porter thì giá trị gia tăng do sản xuất tạo ra là hình thái hữu dụng và giá trị của sản phẩm hoạt động marketing tạo ra lợi ích sở hữu còn logic tạo ra là lợi ích về thời gian và địa điểm. Lợi ích địa điểm là phần giá trị cộng thêm vào sản phẩm qua việc tạo cho nó khả năng trao đổi hoặc tiêu thụ vị trí lợi ích thời gian là phần giá trị của sáng tạo ra bằng việc tạo ra khả năng sản phẩm có mặt đúng thời điểm mà khách hàng có nhu cầu.
Không chỉ vậy logistics còn có những Xét trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân, ngành logistics có vị trí ngày càng quan trọng và có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển kinh tế của các quốc gia và thế giới. Phần giá trị gia tăng do ngành logistics tạo ra ngày càng lớn và tác động của nó thể hiện rõ qua những khía cạnh dưới đây: Thứ nhất, logistics là công cụ liên kết các hoạt động kinh tế trong một quốc gia và toàn cầu qua việc cung cấp nguyên liệu, sản xuất, lưu thông phân phối, mở rộng thị trường. Trong các nền kinh tế hiện đại, sự tăng trưởng về số lượng của khách hàng đã thúc đẩy sự gia tăng của các thị trường hàng hóa và dịch vụ trong nước và quốc tế. Hàng nghìn sản phẩm và dịch vụ mới đã được giới thiệu, đang được bán ra và phân phối hàng ngày đến các ngõ ngách của thế giới trong thập kỷ vừa qua.
Để giải quyết các thách thức do thị trường mở rộng và sự tăng nhanh của hàng hóa và dịch vụ, các hãng kinh doanh phải mở rộng quy mô và tính phức tạp, phát triển các nhà máy liên hợp thay thế cho những nhà máy đơn. Hệ thống logistics hiện đại đã giúp các hãng làm chủ được toàn bộ năng lực cung ứng của mình qua việc liên kết các hoạt động cung cấp, sản xuất, lưu thông, phân phối kịp 25 thời chính xác. Nhờ đó mà đáp ứng được những cơ hội kinh doanh trong phạm vi toàn cầu. Chính vì vậy, sự phân phối sản phẩm từ các nguồn ban đầu đến các nơi tiêu thụ trở thành một bộ phận vô cùng quan trọng trong phạm vi toàn 7 cầu.
Chính vì vậy, sự phân phối sản phẩm từ các nguồn ban đầu đến các nơi tiêu thụ trở thành một bộ phận vô cùng quan trọng trong GDP ở mỗi quốc gia. Theo ước tính của Viện Logistics châu Á - Thái Bình Dương (TLIAP), trị giá của dịch vụ Logistics chiếm 10 - 15% tổng trị giá hàng hóa toàn cầu, tương đương 2. Tại Việt Nam chi phí logistics chiếm khoảng 15 - 20% GDP, khoảng 8,6 - 11,1 tỷ USD năm 2006, dự báo trong 10 năm tới kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đạt mốc 200 tỉ USD/năm, cho thấy nhu cầu logistics ngày càng lớn. Thứ hai, tối ưu hóa các chu trình sản xuất, kinh doanh từ khâu đầu vào đến khi sản phẩm tới tay người tiêu dùng cuối cùng.
Logistics hỗ trợ sự di chuyển và dòng chảy của nhiều hoạt động nhờ vào sự quản lý hiệu quả, nó tạo thuận lợi trong việc bán hầu hết các loại hàng hóa và dịch vụ. Có thể thấy rằng nếu hàng hóa không đến đúng thời điểm, không đến đúng các vị trí và với các điều kiện mà khách hàng cần thì khách hàng không thể mua chúng. Việc không bán được hàng hóa sẽ làm mọi hoạt động kinh tế trong chuỗi cung ứng bị vô hiệu. Thứ ba, tiết kiệm và giảm chi phi phí trong kênh phân phối.
Với tư cách là các tổ chức kinh doanh cung cấp các dịch vụ logistics chuyên nghiệp, các doanh nghiệp logistics mang lại đầy đủ các lợi ích của các third - party cho các ngành sản xuất và kinh doanh khác. Từ đó mà mang lại hiệu quả cao không chỉ ở chất lượng dịch vụ cung cấp mà còn tiết kiệm tối đa về thời gian và tiền bạc cho mọi quá trình phân phối vận động trong nền kinh tế. Thứ tư, mở rộng thị trường trong buôn bán quốc tế, hoàn thiện và tiêu chuẩn hóa hoạt động kinh doanh và vận tải quốc tế. Trong thời đại toàn cầu hóa, thương mại quốc tế là sự lựa chọn tất yếu cho mọi quốc gia Trong tiến trình phát triển đất nước Cách giao dịch quốc tế chỉ thực hiện được và mang lại hiệu quả cho Quốc gia khi dựa trên một hệ thống logistics rẻ tiền và chất lượng cao hệ thống này giúp cho mọi dòng hàng hóa được lưu chuyển thuận lợi suôn sẻ từ quốc gia này về quốc gia khác nhờ việc cung ứng kịp thời, phân phối chính xác, chứng từ tiêu chuẩn, thông tin rõ ràng.
Các yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ logistics Theo bài nghiên cứu về “Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng cung cấp dịch vụ logistics: Một nghiên cứu điển hình ở Việt Nam (2021)” của tác giả Nguyễn Thị Liên Hương và cộng sự, có 3 yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ Logistics tại Việt Nam: Khả năng quản lý nhu cầu của khách hàng (CDM), Khả năng đổi mới (IC), Khả năng quản lý thông tin (IM) và được minh hoạ bằng mô hình sau: 8 Hình 1. Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ logistics tại Việt Nam (Nguồn: Nguyễn Thị Liên Hương và cộng sự, 2021) Khả năng quản lý nhu cầu của khách hàng (CDM): Khả năng quản lý nhu cầu của khách hàng (CDM) là một yếu tố cực kỳ quan trọng đối với hiệu quả của hoạt động logistics. Ảnh hưởng rõ rệt của khả năng quản lý nhu cầu của khách hàng là khả năng dự đoán và lập kế hoạch. Khi doanh nghiệp có khả năng hiểu rõ nhu cầu của khách hàng, họ có thể dễ dàng dự đoán các yêu cầu về sản phẩm và dịch vụ logistics trong tương lai.
Điều này giúp tối ưu hóa quy trình lập kế hoạch, từ việc lập lịch vận chuyển đến quản lý tồn kho, giảm thiểu sự lãng phí và tối ưu hóa tài nguyên. Ngoài ra, khả năng quản lý nhu cầu của khách hàng còn ảnh hưởng đến việc phát triển dịch vụ và giải pháp logistics tùy chỉnh. Cung cấp các giải pháp linh hoạt và phù hợp với nhu cầu cụ thể của từng khách hàng không chỉ tạo ra một mối quan hệ chặt chẽ hơn mà còn giúp tăng cường sự hài lòng và trung thành từ phía khách hàng. Điều này có thể tạo ra cơ hội mở rộng và tăng doanh số bán hàng trong tương lai.
Hơn nữa, khả năng quản lý nhu cầu của khách hàng cũng ảnh hưởng đến hiệu suất toàn diện của chuỗi cung ứng. Việc thông tin nhu cầu được chia sẻ một cách chính xác và kịp thời giữa các bên liên quan trong chuỗi cung ứng giúp tối ưu hóa quy trình vận chuyển, giảm thiểu thời gian chờ đợi và tăng cường khả năng đáp ứng đúng hạn.