chương 1, tác giả đã trình bày về tình hình nghiên cứu trong nước và trên thế giới để làm nền tảng và giúp phát triển bài nghiên cứu sau này. Trong đó, tác giả đã tập hợp những nghiên cứu tiêu biểu về việc thực thi TNXH của doanh nghiệp trong nhiều lĩnh vực và tác động của các hoạt động TNXH đối với thái độ, hành vi của khách hàng đối với doanh nghiệp. Qua đó, phân tích đánh giá tổng quát sơ bộ những đề tài nghiên cứu này về mặt được và mặt hạn chế từ đó nhấn mạnh đóng góp của đề tài nghiên cứu này. Đề tài khóa luận này sẽ làm rõ và bổ sung một phần cho khoảng trống này.
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 2. Các vấn đề về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 2. Khái niệm về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Năm 1953, tác giả Bowen lần đầu tiên đề cập đến thuật ngữ TNXH trong cuốn sách Social Responsibilities of the Businessmen qua đó ông cho rằng “TNXH là nghĩa vụ tuân thủ các chính sách để đưa ra các quyết định và thực hiện theo hướng hành động phù hợp với các đối tượng và giá trị của xã hội” (tr. Frederick (1960) nhận định các doanh nhân cầ n phải giám sát đươ ̣c hoa ̣t động của một hệ thố ng kinh tế nhằ m thỏa mãn các kỳ vo ̣ng của công chúng.
Ở mỗi thời điểm nhất định, các doanh nghiệp phải quan tâm đến tất cả các vấn đề kinh tế, pháp lý, đạo đức và những lĩnh vực khác mà xã hội trông đợi (Carroll, 1979). Có trách nhiệm với xã hội có nghĩa là không chỉ đáp ứng các kỳ vọng của pháp luật mà còn vượt ra ngoài sự tuân thủ và đầu tư nhiều hơn vào nguồn nhân lực, môi trường và mối quan hệ với các bên liên quan (Commission of The European Communities, 2001). Tương tự, Ogrizek M. (2002) cho rằng TNXH không chỉ bao gồm hoạt động từ thiện, công việc tình nguyện và sự tham gia vào cộng đồng mà còn bao gồm các hoạt động quản lý môi trường và quản lý nguồn nhân lực.
Năm 2011, chiến lược đổi mới TNXH 2011 2014 đã đưa ra khuôn khổ mới, mở rộng phạm vi và các khía cạnh của TNXH, ít nhất bao gồm các vấn đề: nhân quyền, lao động và việc làm (đào tạo, đa dạng hóa cơ hội, bình đẳng giới và sức khỏe người lao động, phúc lợi doanh nghiệp), vấn đề môi trường (chẳng hạn như đa dạng sinh học, biến đổi khí hậu, sử dụng tài nguyên có hiệu quả, phòng ngừa ô nhiễm), chống hối lộ và tham nhũng. Sự tham gia của cộng đồng và hỗ trợ phát triển xã hội đảm bảo khả năng hội nhập của người tàn tật, bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng cũng là một phần không 12 thể thiếu của TNXH. Theo nghiên cứu của Tổ chức Kinh doanh vì Trách nhiệm xã hội (Kotler & Lee, 2005), các doanh nghiệp khi tham gia vào các hoạt động CSR sẽ thu được nhiều lợi ích như tăng doanh thu và thị phần; củng cố vị trí thương hiệu; củng cố hình ảnh và tăng cường ảnh hưởng của doanh nghiệp; tăng khả năng thu hút, động viên và giữ chân nhân viên; giảm chi phí hoạt động; và tăng sức hấp dẫn đối với nhà đầu tư và nhà phân tích tài chính. Mỗi ngành nghề, tổ chức, chính phủ nhìn nhận TNXH theo những góc độ và quan điểm riêng, từ đó có rất nhiều định nghĩa khác nhau về TNXH doanh nghiệp.
Tựu chung lại, TNXH của doanh nghiệp có những điểm tương đồng sau: ● Lợi ích của doanh nghiệp luôn đi liền với lợi ích của xã hội. Nói cách khác, các công ty cần biết cân bằng lợi ích trong mối quan hệ với các bên liên quan như nhân viên và người lao động, nhà cung cấp, nhà phân phối, khách hàng,. ● Yêu cầu tính kỷ luật tự giác thực hiện TNXH đối với các doanh nghiệp. Kỷ luật tự giác là yếu tố quan trọng tạo dựng nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững không chỉ của công ty mà của toàn xã hội.
Các hướng nghiên cứu về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Các nghiên cứu về TNXH của doanh nghiệp trên thế giới rất phong phú về chất lượng cũng như số lượng. Hơn hai thập kỷ vừa qua, chủ đề này luôn thu hút sự quan tâm của các nhà quản lý doanh nghiệp cũng như giới học thuật, tuy nhiên phạm vi của các nghiên cứu của nó thì rộng, đa chiều và có một số chủ đề nổi bật như sau: 13 Tác động của TNXH lên đối tượng khách hàng Khách hàng là một trong những tài sản quan trọng nhất và có vai trò to lớn ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Trách nhiệm với khách hàng được hiểu là việc doanh nghiệp cung cấp các sản phẩm với chất lượng cao, đảm bảo sự an toàn cho người sử dụng, cung cấp các thông tin về sản phẩm một cách trung thực và định giá bán sản phẩm hợp lý, cũng như có các dịch vụ tư vấn, bảo hành, lắp đặt và giải quyết khiếu nại của khách hàng nhanh chóng, hiệu quả. Đối tượng khách hàng được đề cập nhiều nhất và kết quả là các nghiên cứu chứng minh rằng TNXH giúp cải thiện hành vi tiêu dùng (Nguyễn Hoàng Khởi & Dương Ngọc Thành, 2019; Chaimankong B.
Khi một doanh nghiệp thực hiện các hoạt động TNXH thì được cộng đồng đánh giá cao, chính các hoạt động TNXH sẽ góp phần xây dựng niềm tin của người tiêu dùng đối với thương hiệu của doanh nghiệp (Kollat J., 2017; Nguyễn Thị Kim Ánh & Nguyễn Thị Minh Hòa, 2018;). Từ đó thúc đẩy sự gắn kết của khách hàng và giúp nâng cao lòng trung thành của họ đối với doanh nghiệp (Martínez P., 2013; Võ Kim Nhạn & Nguyễn Thị Ngọc Phương, 2022). Như vậy, ở một mức độ nào đó của thực thi TNXH, các hoạt động có trách nhiệm đều tác động và mang lại lợi ích cho khách hàng. Tác động của TNXH lên đối tượng Nhân viên/Người lao động Nhận thức của nhân viên về TNXH sẽ ảnh hưởng tới văn hóa doanh nghiệp và năng lực của công ty, do đó khía cạnh nhân viên là rất quan trọng.
Bởi vì các nhân viên là bên liên quan chính trong chuỗi giá trị của bất kỳ tổ chức nào đóng góp trực tiếp vào thành công của tổ chức. Khía cạnh mối quan hệ với nhân viên được đo lường dựa vào mức độ công ty đảm bảo sức khỏe và 14 an toàn cho nhân viên, các lợi ích liên quan đến bảo hiểm xã hội và các khoản trích từ lương khác, các tổ chức, hiệp hội liên quan đến người lao động. Do đó, hiểu được mối quan hệ giữa nhân viên và CSR sẽ giúp tổ chức đưa ra các chiến lược phù hợp nhằm thỏa mãn nhu cầu của đối tượng này. Một số nghiên cứu chỉ ra rằng TNXH có tác động tích cực đến sự hài lòng và tin tưởng của nhân viên với doanh nghiệp.
Sự hài lòng của nhân viên đối với công việc và sự tin tưởng của nhân viên vào tổ chức có tác động tích cực đến sự gắn kết của nhân viên với công việc (Chen Z., 2019; Nguyễn Thị Ngọc Phương và Đặng Như Ngà, 2020). Nghiên cứu về tác động của nhận thức TNXH đến hiệu quả công việc của nhân viên thông qua nhân tố trung gian là thu nhập, Bùi Nhất Vương (2021) chỉ ra rằng mặc dù, những nhân viên nhận thấy tổ chức của họ đã tích cực thực hiện TNXH, thì họ có xu hướng thể hiện sự hài lòng và sự gắn kết cao, nhưng mối liên kết tích cực này dường như có ý nghĩa hơn đối với những nhân viên đã kiếm được Thu nhập cao hơn. Tác động của TNXH lên thương hiệu Hiện nay, các doanh nghiệp chú ý tới việc củng cố hình ảnh, nâng cao uy tín, phát triển thương hiệu thông qua việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp, đạo đức kinh doanh là một giải pháp đang được áp dụng và bước đầu đem lại hiệu quả tích cực. Các doanh nghiệp muốn khẳng định được thương hiệu trên thị trường thì điều mà họ hướng tới là việc thực hiện tốt TNXH.
Các nghiên cứu khẳng định TNXH tác động trực tiếp thuận chiều đến thương hiệu cũng như sự ưa thích thương hiệu như Liu M. (2019) khẳng định các sáng kiến TNXH của doanh nghiệp có ảnh hưởng đáng kể đến danh tiếng thương hiệu, và danh tiếng thương hiệu sẽ trở thành một trong những thành phần chiến lược cạnh tranh nhất để thành công trong thị trường cạnh tranh. Shabbir et al. (2018) cho thấy 15 TNXH có tác động tích cực trực tiếp đến liên tưởng thương hiệu ở Pakistan, và gián tiếp đến lòng trung thành thông qua liên tưởng thương hiệu.
Dựa trên nghiên cứu về TNXH và thương hiệu, có thể thấy được tầm quan trọng của việc các doanh nghiệp ưu tiên thực hiện TNXH và xây dựng uy tín đối với khách hàng có thể tạo ra lợi nhuận kinh doanh tích cực và lâu dài. Mô hình lý thuyết về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Năm 1991, Giáo sư Carroll công bố nghiên cứu về mô hình kim tự tháp TNXH và đây được coi là một khuôn khổ mà doanh nghiệp có thể sử dụng, dựa trên bốn trách nhiệm phụ thuộc lẫn nhau: kinh tế, pháp lý, đạo đức và nhân ái. Bên cạnh đó, ông coi TNXH là một công cụ cạnh tranh, minh chứng cho các hành động có trách nhiệm, có khả năng giải quyết các vấn đề của doanh nghiệp; từ đó nhấn mạnh rằng một công ty có trách nhiệm với xã hội nên có những mối quan tâm ngoài lợi nhuận ngắn hạn. Mô hình kim tự tháp TNXH (Nguồn: Carroll, 1991) 16 Trách nhiệm kinh tế: Đây được coi là một trách nhiệm nền tảng, nghĩa là doanh nghiệp cần đạt được lợi nhuận kỳ vọng trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Có lợi nhuận sẽ giúp doanh nghiệp tiếp tục đầu tư phát triển kinh doanh, sản xuất hàng hóa và dịch vụ mà xã hội cần và muốn với một mức giá có thể duy trì doanh nghiệp và làm thỏa mãn trách nhiệm của doanh nghiệp với các nhà đầu tư, trả cổ tức cho cổ đông, trả lương cho nhân viên, tạo ra và duy trì công ăn việc làm,… Thực hiện các công việc này, các doanh nghiệp thực sự góp phần vào tăng thêm phúc lợi cho xã hội, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Trách nhiệm pháp lý: Bên cạnh việc đảm bảo rằng kinh doanh có lợi nhuận thì việc một doanh nghiệp tuân thủ mọi luật lệ, quy định của pháp luật là trách nhiệm vô cùng quan trọng.