Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Diệu Linh (chuyên ngành Kinh tế phát triển, Học viện Chính sách và Phát triển, năm 2023) đặt vấn đề trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đạt được nhiều thành tựu tăng trưởng vượt bậc kể từ sau công cuộc Đổi mới năm 1986. Trong giai đoạn từ năm 2002 đến năm 2020, GDP bình quân đầu người của Việt Nam đã tăng 3,6 lần; tỷ lệ hộ nghèo giảm từ mức trên 14% (năm 2010) xuống còn 3,8% (năm 2020). Quy mô nền kinh tế mở rộng kéo theo mức sống và nhu cầu sử dụng năng lượng phục vụ hoạt động sản xuất công nghiệp, dịch vụ và sinh hoạt dân cư gia tăng nhanh chóng. Năng lượng đóng vai trò chất xúc tác thiết yếu cho phát triển kinh tế, tuy nhiên sự gia tăng tiêu thụ quá mức các nguồn nhiên liệu tự nhiên, đặc biệt là năng lượng hóa thạch, đã tạo áp lực lớn lên môi trường sinh thái, làm gia tăng nhanh lượng phát thải khí nhà kính mà điển hình là khí cacbon dioxit ($CO_2$). Trong khi thế giới và Việt Nam cùng hướng tới các mục tiêu phát triển bền vững, kinh tế xanh và cam kết đạt phát thải ròng bằng "0" (Net Zero) vào năm 2050, việc kiểm soát và cắt giảm $CO_2$ trở thành nhiệm vụ cấp bách. Từ thực tiễn đó, đề tài "Ảnh hưởng của thu nhập và năng lượng tiêu thụ đến phát thải $CO_2$ tại Việt Nam" được thực hiện nhằm định lượng cụ thể mối quan hệ tương tác giữa tăng trưởng thu nhập, sử dụng năng lượng và phát thải môi trường.

Mục tiêu tổng quát của khóa luận là đánh giá thực trạng thu nhập, năng lượng tiêu thụ và phát thải khí $CO_2$ tại Việt Nam; phân tích định lượng tác động trực tiếp của thu nhập bình quân đầu người và năng lượng tiêu thụ bình quân đầu người đến sự gia tăng phát thải $CO_2$; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp, khuyến nghị chính sách nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường và thúc đẩy tăng trưởng xanh.

Các mục tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  1. Tìm hiểu và phân tích về thu nhập của Việt Nam giai đoạn 1972 – 2021.
  2. Tìm hiểu và phân tích về vấn đề tiêu thụ năng lượng tại Việt Nam giai đoạn 2001 – 2021.
  3. Xác định, phân tích tác động của thu nhập bình quân đầu người và năng lượng tiêu thụ đến phát thải $CO_2$ tại Việt Nam giai đoạn 1972 – 2021.
  4. Đề xuất những giải pháp, kiến nghị hữu hiệu cho việc giảm thiểu phát thải $CO_2$ đến từ tăng trưởng kinh tế và tiêu thụ năng lượng tại Việt Nam.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu của đề tài gồm 7 câu hỏi:

  1. Khí $CO_2$ có ảnh hưởng như thế nào đến cuộc sống của con người và mục tiêu tăng trưởng xanh của Việt Nam?
  2. Thực trạng lượng phát thải khí $CO_2$ tại Việt Nam diễn biến ra sao?
  3. Thực trạng tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam diễn biến như thế nào?
  4. Thực trạng tiêu thụ năng lượng tại Việt Nam diễn biến như thế nào?
  5. Tăng trưởng kinh tế và lượng năng lượng tiêu thụ ảnh hưởng như thế nào đến phát thải khí $CO_2$ tại Việt Nam trong ngắn hạn và dài hạn?
  6. Các giải pháp nào giúp giảm thiểu phát thải khí $CO_2$ tại Việt Nam?
  7. Nhà nước cần đưa ra những chính sách gì để khắc phục tình trạng phát thải khí $CO_2$ hiện tại và thúc đẩy tăng trưởng xanh, tăng trưởng bền vững?

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là lượng phát thải khí $CO_2$, thu nhập bình quân và năng lượng tiêu thụ tại Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu về không gian tập trung trên lãnh thổ Việt Nam; phạm vi thời gian sử dụng chuỗi số liệu thứ cấp kéo dài từ năm 1972 đến năm 2021, trong đó phần đánh giá thực trạng đi sâu vào giai đoạn 2001 – 2021.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng cơ sở lý luận dựa trên các khái niệm kinh tế học vĩ mô và kinh tế môi trường:

  • Thu nhập quốc dân: Sử dụng chỉ tiêu Thu nhập quốc gia (GNI) và Tổng sản phẩm quốc nội (GDP).
  • Tiêu thụ năng lượng: Khái niệm về các nguồn năng lượng (than đá, dầu khí, thủy điện, năng lượng tái tạo); suất tiêu hao năng lượng (SEC); mức tiêu hao năng lượng cho sản xuất so với GDP.
  • Phát thải $CO_2$: Định nghĩa, nguồn gốc phát sinh từ các phản ứng đốt cháy nhiên liệu, quá trình sản xuất công nghiệp và các tác hại đối với hiện tượng hiệu ứng nhà kính và biến đổi khí hậu toàn cầu.
  • Lý thuyết đường cong môi trường Kuznets (EKC): Lý thuyết ban đầu của Simon Kuznets (1955) về mối quan hệ chữ U ngược giữa tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập, được Gene Grossman và Alan Krueger (1991) cùng Báo cáo Phát triển Thế giới của Ngân hàng Thế giới (World Bank, 1992) mở rộng sang lĩnh vực chất lượng môi trường. Giả thuyết EKC phân kỳ phát triển qua 3 giai đoạn: trước công nghiệp hóa (môi trường suy thoái nhanh cùng mức tăng thu nhập), công nghiệp hóa (bắt đầu có chuyển biến ý thức và quản lý) và sau công nghiệp hóa (thu nhập cao, chuyển đổi cơ cấu sang dịch vụ - công nghệ cao, đầu tư bảo vệ môi trường tăng giúp mức phát thải giảm dần).

Mô hình nghiên cứu thực nghiệm được kế thừa và phát triển từ nghiên cứu của Bùi Thái Diệu Thảo và cộng sự (2019). Tác giả thiết lập phương trình hồi quy hàm logarit tự nhiên:

$$\ln(CO_2/C)_t = \beta_0 + \beta_1 \ln(GNI/C)_t + \beta_2 [\ln(GNI/C)_t]^2 + \beta_3 \ln(EC/C)_t + u_t$$

Trong đó:

  • $\ln(CO_2/C)$: Logarit tự nhiên lượng phát thải $CO_2$ bình quân đầu người (tấn/người).
  • $\ln(GNI/C)$: Logarit tự nhiên thu nhập bình quân đầu người (USD/người, tính theo giá cố định năm 2017).
  • $[\ln(GNI/C)]^2$: Bình phương logarit tự nhiên thu nhập bình quân đầu người nhằm kiểm định tính phi tuyến của đường cong EKC (kỳ vọng $\beta_1 > 0$ và $\beta_2 < 0$ minh chứng dạng chữ U ngược).
  • $\ln(EC/C)$: Logarit tự nhiên mức tiêu thụ năng lượng sơ cấp bình quân đầu người (kỳ vọng $\beta_3 > 0$).
  • $u_t$: Sai số ngẫu nhiên tại thời điểm $t$.

Về phương pháp xử lý dữ liệu, tác giả áp dụng phương pháp định lượng chuỗi thời gian hiện đại thông qua phần mềm EViews 12:

  • Kiểm định tính dừng (nghiệm đơn vị) bằng phương pháp kiểm định Augmented Dickey-Fuller (ADF) nhằm xác định bậc tích hợp của các chuỗi biến số ($I(0)$, $I(1)$ hoặc $I(2)$).
  • Mô hình phân phối trễ tự hồi quy (ARDL – Autoregressive Distributed Lag) kết hợp kiểm định đường bao (Bounds Testing) do Pesaran và cộng sự phát triển nhằm kiểm tra sự tồn tại của mối quan hệ đồng liên kết dài hạn giữa các biến có bậc tích hợp hỗn hợp.
  • Tiêu chuẩn thông tin Akaike (AIC) được sử dụng để xác định cấu trúc độ trễ tối ưu cho mô hình ARDL.
  • Ước lượng hệ số co dãn trong dài hạn và mô hình hiệu chỉnh sai số (ECM) trong ngắn hạn.

Nguồn dữ liệu thứ cấp được tác giả trích xuất từ cơ sở dữ liệu Our World in Data (dự án của Global Change Data Lab), Báo cáo Đánh giá Thống kê Năng lượng Thế giới của BP (BP Statistical Review of World Energy 2022), Tổng cục Thống kê Việt Nam (GSO) và Ngân hàng Thế giới (World Bank).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa các định nghĩa, công thức tính toán về GNI, tiêu thụ năng lượng, cơ chế phát thải khí $CO_2$ và khung lý thuyết đường cong môi trường Kuznets. Tác giả tiến hành lược khảo toàn diện các công trình nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước:

  • Nghiên cứu của Phạm Hồng Mạnh và cộng sự (2022) dùng mô hình VAR và phân rã phương sai kiểm định mối quan hệ giữa $CO_2$ và tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 1985 – 2013.
  • Nghiên cứu tại các nước BRICS của nhóm tác giả từ Izmir, Thổ Nhĩ Kỳ (2015) ghi nhận tác động thuận chiều của năng lượng tiêu thụ, FDI và GDP tới $CO_2$.
  • Nghiên cứu của Nguyễn Thị Cẩm Vân (2021) trên tạp chí Kinh tế và Quản lý áp dụng mô hình ARDL chứng minh mối tương quan nghịch chiều giữa phát thải $CO_2$ và tiêu thụ năng lượng tái tạo tại Việt Nam.
  • Công trình của Lê Ánh Ngọc và cộng sự (2020) tiếp cận bằng thống kê mô tả; Nguyễn Ngọc Đạt và cộng sự sử dụng phương pháp GMM; Trần Mai Trang (2020) dùng VAR chỉ ra mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa phát thải và tăng trưởng với tỷ lệ tác động 17,4%; Bùi Hoàng Ngọc và cộng sự (2022) kiểm định nhân quả hai chiều; Al-Mulali, Saboori và Ozturk (2015) nghiên cứu dữ liệu 1981 – 2011 bằng ARDL nhưng đưa ra kết luận không tồn tại đường cong EKC tại Việt Nam do hai yếu tố luôn cùng chiều.
  • Dẫn chứng số liệu giai đoạn đại dịch Covid-19 nửa đầu năm 2020 ghi nhận lượng phát thải $CO_2$ tại Việt Nam sụt giảm 8,8% so với cùng kỳ năm 2019 do giãn cách và suy giảm nhu cầu vận tải, công nghiệp.

Từ tổng quan tình hình nghiên cứu, tác giả chỉ ra các khoảng trống khoa học: nhiều nghiên cứu trước đây dùng chuỗi số liệu cũ (1975 – 2009), chưa cập nhật các biến cố kinh tế - môi trường mới (như khủng hoảng nhiên liệu năm 2021); thường bỏ qua yếu tố tiêu thụ năng lượng sơ cấp công nghiệp trong mô hình hoặc kết quả ước lượng giữa các kỹ thuật VAR, VECM và ARDL còn thiếu tính nhất quán.

Chương 2: Phân tích tác động của tăng trưởng kinh tế và tiêu thụ năng lượng đến phát thải khí CO2 tại Việt Nam giai đoạn 2001 - 2021

Chương 2 trình bày chi tiết thực trạng ba biến số nghiên cứu và các bước tính toán thực nghiệm kinh tế lượng:

1. Thực trạng phát thải $CO_2$: Lượng phát thải $CO_2$ của Việt Nam tăng liên tục từ 64,8 triệu tấn (năm 2001) lên mức đỉnh điểm 359,7 triệu tấn (năm 2019), đạt 339,8 triệu tấn vào năm 2021 (tăng hơn 5 lần sau 20 năm). Năm 2021, phát thải $CO_2$ riêng từ năng lượng sơ cấp là 272,7 triệu tấn (chiếm 0,8% toàn cầu, bình quân 2,77 tấn/người). Tổng phát thải từ mọi nguồn đạt 339,8 triệu tấn (chiếm 0,9% toàn cầu, bình quân 3,447 tấn/người). Suất phát thải bình quân trên mỗi Exajoule (EJ) năng lượng sơ cấp của Việt Nam đạt mức tương đối cao: 63,12 tấn/EJ.

2. Thực trạng thu nhập và tăng trưởng kinh tế: GDP bình quân đầu người tăng đều từ mức trên 1.000 USD (năm 2001) lên hơn 3.400 USD (năm 2021). Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2001 – 2010 đạt 7,2%/năm; giai đoạn 2010 – 2020 duy trì mức 5,95%/năm (giai đoạn 2010 – 2015 đạt 5,91%/năm và 2016 – 2020 đạt 5,98%/năm). Dù chịu ảnh hưởng của Covid-19, tăng trưởng năm 2021 vẫn đạt 2,58%, quy mô GDP đạt xấp xỉ 352 tỷ USD, đứng thứ 5 khu vực Đông Nam Á. Cơ cấu kinh tế năm 2021 dịch chuyển tích cực: khu vực dịch vụ chiếm 41%, công nghiệp chiếm 38%, nông lâm nghiệp và thủy sản chiếm 12%. Số liệu điều tra mức sống dân cư năm 2020 cho thấy sự chênh lệch lớn giữa các vùng miền và tầng lớp: thu nhập bình quân khu vực thành thị đạt 5,6 triệu đồng/tháng (gấp 1,6 lần nông thôn: 3,5 triệu đồng/tháng); nhóm 20% giàu nhất đạt 9,1 triệu đồng/tháng (gấp hơn 8 lần nhóm 20% nghèo nhất: 1,1 triệu đồng/tháng); vùng Đông Nam Bộ cao nhất (6,0 triệu đồng/tháng), gấp 2,2 lần vùng Trung du và miền núi phía Bắc (2,7 triệu đồng/tháng).

3. Thực trạng tiêu thụ năng lượng: Việt Nam chuyển từ nước xuất khẩu tịnh năng lượng sang nước nhập khẩu tịnh từ năm 2005. Tiêu thụ năng lượng sơ cấp tăng từ 0,87 EJ (năm 2001) lên 4,32 EJ (năm 2021), chiếm 0,7% toàn cầu; tốc độ tăng trưởng tiêu thụ giai đoạn 2011 – 2021 bình quân đạt 7,2%/năm. Cơ cấu tiêu thụ năng lượng sơ cấp năm 2021 gồm: than đá chiếm 49,77%, dầu mỏ chiếm 21,76%, thủy điện chiếm 16,44%, năng lượng tái tạo chiếm 6,25% và khí đốt chiếm 6,02%. Đến hết năm 2021, công suất lắp đặt năng lượng tái tạo đạt khoảng 22.300 MW (chiếm khoảng 28% hệ thống điện quốc gia). Tuy nhiên, hiệu suất sử dụng năng lượng còn thấp: turbine nhiệt điện than/dầu chỉ đạt 28% – 36% (thấp hơn các nước phát triển 8% – 10%), hiệu suất lò hơi đạt xấp xỉ 70%, suất tiêu hao năng lượng cho một đơn vị sản phẩm cao hơn 1,3 – 1,6 lần so với khu vực.

4. Kết quả tính toán thực nghiệm mô hình ARDL:

Tên biến Thống kê t (Sai phân bậc 1) p-value (Bậc 1) Thống kê t (Sai phân bậc 2) p-value (Bậc 2) Kết luận tính dừng
$\ln(CO_2/C)$ -7,228973 0,0000 -5,907851 0,0000 Dừng ở sai phân bậc 1 $I(1)$
$\ln(EC/C)$ -3,787282 0,0057 -8,094445 0,0000 Dừng ở sai phân bậc 1 $I(1)$
$[\ln(GNI/C)]^2$ -2,401076 0,1474 -4,491219 0,0008 Dừng ở sai phân bậc 2 $I(2)$
$\ln(GNI/C)$ -2,944994 0,0485 -4,185578 0,0021 Dừng ở sai phân bậc 1 $I(1)$ / $I(2)$

Căn cứ tiêu chuẩn thông tin AIC nhỏ nhất (-1,73), mô hình tối ưu được lựa chọn là ARDL(1, 1, 0, 0). Kiểm định đường bao (Bounds Test) xác nhận tồn tại mối quan hệ đồng liên kết dài hạn giữa các biến:

Số biến kiểm định (k) Giá trị thống kê F Mức 10% (I0 - I1) Mức 5% (I0 - I1) Mức 2,5% (I0 - I1) Mức 1% (I0 - I1)
3 5,476948 2,37 - 3,20 2,79 - 3,67 3,15 - 4,08 3,65 - 4,66

Do giá trị thống kê $F = 5,477$ lớn hơn giá trị tới hạn trên tại mọi mức ý nghĩa từ 10% đến 1%, mô hình khẳng định tồn tại mối quan hệ cân bằng dài hạn.

Chương 3: Định hướng và khuyến nghị giải pháp nhằm giảm thiểu lượng phát thải CO2 đến từ tăng trưởng kinh tế và tiêu thụ năng lượng tại Việt Nam

Chương 3 trình bày các định hướng phát triển kinh tế xanh, chỉ ra các thách thức lớn như nguy cơ thiếu hụt nguồn điện trong giai đoạn 2020 – 2025 (dự phòng công suất toàn quốc không xét năng lượng tái tạo chỉ đạt khoảng 18%), tình trạng thiếu vốn đầu tư đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp. Tác giả liên hệ với các mục tiêu quốc gia: giảm 30% lượng phát thải khí metan và ngăn chặn nạn phá rừng vào năm 2030, đạt mức phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050.

Hệ thống khuyến nghị giải pháp được đề xuất trên hai nhóm chính:

  • Nhóm giải pháp về tăng trưởng kinh tế xanh: Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng giảm dần tỷ trọng các ngành sử dụng nhiều năng lượng và tài nguyên; ban hành và thực thi các chế tài, tiêu chuẩn môi trường khắt khe; hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận thông tin công nghệ sạch.
  • Nhóm giải pháp về giảm lượng tiêu thụ năng lượng: Khai thác tiềm năng tiết kiệm năng lượng trong các ngành công nghiệp (vốn được World Bank ước tính có thể đạt từ 25% đến 40%); khuyến khích doanh nghiệp cải tiến dây chuyền sản xuất, nâng cấp hiệu suất nhiệt của lò hơi công nghiệp; thúc đẩy các dự án năng lượng tái tạo (điện gió, điện mặt trời, sinh khối) nhằm giảm tỷ trọng phụ thuộc vào nguồn điện than đá (vốn đang chiếm tới 49,77% cơ cấu năng lượng sơ cấp).

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã định lượng cụ thể các hệ số co dãn trong ngắn hạn và dài hạn của mô hình ARDL, xác thực giả thuyết đường cong môi trường Kuznets tại Việt Nam:

Biến số Hệ số hồi quy dài hạn Thống kê t / p-value Hệ số hồi quy ngắn hạn Thống kê t / p-value
$\ln(GNI/C)$ Dấu dương (hệ số $> 0$) $p < 0,1$ +0,058847 Có ý nghĩa thống kê ($p < 0,1$)
$[\ln(GNI/C)]^2$ -0,032209 $p < 0,1$ -0,006651 Có ý nghĩa thống kê ($p < 0,1$)
$\ln(EC/C)$ +0,016300 $p < 0,1$ +0,041287 Có ý nghĩa thống kê ($p < 0,1$)

Chỉ số chẩn đoán mô hình ngắn hạn: hệ số xác định $R^2 = 0,826487$; tiêu chuẩn thông tin Akaike AIC = -1,590110; đại lượng thống kê Durbin-Watson = 2,000000 (chứng minh mô hình không có hiện tượng tự tương quan bậc nhất).

Từ các hệ số ước lượng, khóa luận đưa ra các phát hiện:

  1. Tồn tại đường cong Kuznets (EKC) dạng chữ U ngược: Trong cả dài hạn và ngắn hạn, hệ số bậc một của thu nhập mang dấu dương và hệ số bậc hai mang dấu âm ở mức ý nghĩa 10%. Trong ngắn hạn, khi thu nhập bình quân đầu người tăng 1% thì lượng phát thải $CO_2$ tăng 0,058847%, trong khi biến bình phương thu nhập làm giảm phát thải 0,006651%. Điều này phản ánh xu hướng suy thoái môi trường tăng trong giai đoạn đầu phát triển công nghiệp hóa, nhưng khi thu nhập vượt ngưỡng phát triển nhất định, áp lực phát thải sẽ từng bước được kiểm soát và suy giảm nhờ các chính sách quản lý và đổi mới công nghệ.
  2. Tác động cùng chiều của tiêu thụ năng lượng: Lượng tiêu thụ năng lượng có tương quan dương tới phát thải $CO_2$. Trong ngắn hạn, khi mức tiêu thụ năng lượng tăng 1% sẽ dẫn đến mức phát thải $CO_2$ tăng 0,041287%; trong dài hạn hệ số tác động là +0,0163.
  3. Đóng góp so với các nghiên cứu trước: Công trình đã cập nhật chuỗi dữ liệu đến năm 2021 thay vì các mốc dữ liệu cũ trước đây; đưa trực tiếp biến số tiêu thụ năng lượng sơ cấp vào kiểm định song hành cùng thu nhập; cung cấp bằng chứng thực nghiệm phản biện lại kết luận của Al-Mulali và cộng sự (2015) khi chứng minh được sự tồn tại của đường cong EKC tại Việt Nam bằng kỹ thuật ARDL Bounds Testing.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tồn tại một số giới hạn nghiên cứu được nhận định từ nội dung văn bản:

  • Phạm vi dữ liệu chuỗi thời gian kết thúc ở năm 2021 do hạn chế cập nhật tại thời điểm trích xuất từ cơ sở dữ liệu Our World in Data, chưa bao quát được các biến động kinh tế sau giai đoạn đại dịch Covid-19 và các năm tiếp theo.
  • Biến số năng lượng trong mô hình kinh tế lượng mới chỉ dừng lại ở tổng năng lượng tiêu thụ sơ cấp bình quân đầu người, chưa bóc tách riêng rẽ hàm tác động của từng loại hình năng lượng (năng lượng tái tạo so với năng lượng hóa thạch) trong phương trình hồi quy chính thức.
  • Số lượng quan sát chuỗi thời gian hàng năm còn ở mức khiêm tốn đối với các mô hình kiểm định độ trễ phức tạp.

Hướng mở rộng nghiên cứu tiếp theo bao gồm việc cập nhật chuỗi số liệu sau năm 2021, phân rã chi tiết nguồn tiêu thụ năng lượng thành các biến số thành phần (than đá, dầu mỏ, điện gió, điện mặt trời) và kết hợp thêm các yếu tố về độ mở thương mại, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) để kiểm tra tính ổn định của mô hình.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực đối với:

  • Giảng viên, sinh viên và học viên cao học thuộc các chuyên ngành Kinh tế phát triển, Kinh tế tài nguyên và môi trường, Quản lý kinh tế và Kinh tế lượng ứng dụng.
  • Người làm nghiên cứu thực nghiệm cần tài liệu mẫu về quy trình ước lượng mô hình ARDL kết hợp kiểm định nghiệm đơn vị ADF và kiểm định đồng liên kết Bounds Test trên phần mềm EViews 12.
  • Các nhà hoạch định chính sách môi trường và năng lượng, cung cấp nguồn tư liệu tổng hợp có hệ thống về thực trạng tiêu thụ năng lượng sơ cấp, hiệu suất lò hơi, cơ cấu nguồn điện và bức tranh phát thải khí nhà kính tại Việt Nam suốt hai thập kỷ 2001 – 2021.

Câu hỏi thường gặp

Khóa luận kết luận như thế nào về giả thuyết đường cong môi trường Kuznets (EKC) tại Việt Nam?
Kết quả ước lượng mô hình ARDL cho thấy giả thuyết EKC tồn tại ở cả ngắn hạn và dài hạn tại Việt Nam, thể hiện qua mối quan hệ dạng chữ U ngược: hệ số hồi quy của thu nhập bình quân đầu người ($\ln(GNI/C)$) mang dấu dương trong khi hệ số của biến bình phương thu nhập ($[\ln(GNI/C)]^2$) mang dấu âm (-0,032209 trong dài hạn và -0,006651 trong ngắn hạn, đều có ý nghĩa thống kê ở mức $p < 0,1$).

Mức độ tác động định lượng của tiêu thụ năng lượng đến phát thải $CO_2$ trong ngắn hạn là bao nhiêu?
Trong ngắn hạn, với mức ý nghĩa $p < 0,1$, khi lượng tiêu thụ năng lượng bình quân đầu người tăng 1% thì lượng phát thải khí $CO_2$ bình quân đầu người tại Việt Nam sẽ tăng tương ứng 0,041287%.

Cơ cấu tiêu thụ năng lượng sơ cấp của Việt Nam năm 2021 gồm những thành phần nào?
Theo số liệu từ BP Statistical Review of World Energy được tác giả trích dẫn, cơ cấu tiêu thụ năng lượng sơ cấp năm 2021 của Việt Nam gồm: than đá chiếm tỷ trọng cao nhất với 49,77%; dầu mỏ chiếm 21,76%; thủy điện chiếm 16,44%; năng lượng tái tạo chiếm 6,25% và khí đốt chiếm 6,02%.

Cấu trúc độ trễ tối ưu của mô hình ARDL được lựa chọn như thế nào?
Dựa trên tiêu chuẩn thông tin Akaike (AIC) trong phần mềm EViews 12, mô hình tối ưu được chọn là ARDL(1, 1, 0, 0) với giá trị AIC đạt mức thấp nhất là -1,73 trong số 20 mô hình được kiểm tra.

Số liệu điều tra mức sống dân cư năm 2020 phản ánh khoảng cách chênh lệch thu nhập tại Việt Nam ra sao?
Năm 2020, thu nhập bình quân đầu người một tháng của nhóm 20% dân số giàu nhất đạt 9,1 triệu đồng, cao gấp hơn 8 lần nhóm 20% dân số nghèo nhất (1,1 triệu đồng). Xét theo địa lý, vùng Đông Nam Bộ đạt mức cao nhất cả nước với 6,0 triệu đồng/người/tháng, cao gấp 2,2 lần vùng Trung du và miền núi phía Bắc (2,7 triệu đồng/người/tháng).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Diệu Linh đã phản ánh toàn diện thực trạng phát thải khí $CO_2$, tăng trưởng kinh tế và tiêu thụ năng lượng sơ cấp tại Việt Nam giai đoạn 2001 – 2021. Bằng việc ứng dụng phương pháp kinh tế lượng ARDL Bounds Testing trên chuỗi số liệu từ năm 1972 đến năm 2021, công trình đã xác thực sự tồn tại của đường cong môi trường Kuznets dạng chữ U ngược và lượng hóa tác động thúc đẩy phát thải của biến số tiêu thụ năng lượng. Đây là tài liệu tham khảo học thuật hữu ích cho các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa kinh tế và môi trường tại các quốc gia đang phát triển.