CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm về thu nhập quốc dân a) Khái niệm về thu nhập quốc dân Thu nhập quốc dân (Gross national income – GNI) là chỉ số kinh tế xác định tổng thu nhập của một quốc gia trong một khoảng thời gian; thành phần bao gồm: chi tiêu dùng cá nhân, tổng đầu tư của dân sư, chi tiêu dùng của chính phủ, thu nhập thuần từ tài sản ở nước ngoài, tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu sau đó trừ đi hai khoản là tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ nhập khẩu b) Cách tính thu nhập quốc dân GNI theo giá hiện hành Thu nhập quốc gia (GNI) = GDP + Chênh lệch giữa thu nhập của người lao động Việt Nam ở nước ngoài gửi về và thu nhập của người nước ngoài ở Việt Nam gửi ra + Chênh lệch giữa thu nhập sở hữu nhận được từ nước ngoài với thu nhập sở hữu trả cho nước ngoài Trong đó: - Chênh lệch (thuần) giữa thu nhập và chi trả về thu nhập lao động với nước ngoài là phần còn lại giữa các khoản thu nhập về tiền lương và tiền công lao động (bằng tiền hay hiện vật) và các khoản thu nhập khác mang tính chất trả công lao động cho công nhân và người lao động Việt Nam thường trú ở nước ngoài nhận được từ các tổ chức, đơn vị dân cư sản xuất không thường trú (nước ngoài) - (trừ đi) phần chi về thù lao lao động của các tổ chức, đơn vị dân cư sản xuất thường trú của Việt Nam chi trả cho công nhân và người lao động nước ngoài thường trú ở Việt Nam; - Chênh lệch giữa thu nhập sở hữu nhận được từ nước ngoài với thu nhập sở hữu trả cho nước ngoài là phần còn lại của thu nhập sở hữu do đơn vị và dân cư thường trú Việt Nam nhận được từ nước ngoài (từ đơn vị và dân cư 6 không thường trú) - (trừ đi) thu nhập sở hữu của đơn vị và dân cư không thường trú Việt Nam. Thu nhập hay chi trả sở hữu gồm các khoản sau: - Thu nhập hoặc chi trả về lợi tức đầu tư trực tiếp với nước ngoài; - Thu nhập hoặc chi trả lợi tức đầu tư vào giấy tờ có giá như: cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các loại giấy tờ có giá và công cụ tài chính khác; - Thu nhập hoặc chi trả lợi tức về cho thuê, mướn, quyền sử dụng, bản quyền sáng chế, nhãn mác, quyền khai thác khoáng sản phục vụ cho quá trình sản xuất, cho thuê đất đai, vùng trời, vùng biển, tô giới,. GNI theo giá so sánh Thu nhập quốc gia (GNI) theo giá so sánh = Thu nhập quốc gia (GNI) theo giá hiện hành năm báo cáo (:) Chỉ số giảm phát GDP của năm báo cáo so với năm gốc so sánh 1.
Khái niệm về tiêu thụ năng lượng 1. Khái niệm năng lượng Nguồn năng lượng được biết đến bao gồm các nhiên liệu, điện năng, nhiệt năng thu được trực tiếp hoặc thông qua chế biến từ các nguồn năng lượng không tái tạo và tái tạo. Một số năng lượng được khai thác tại Việt Nam • Than: Tập đoàn công nghiệp than – khoáng sản Việt Nam • Dầu khí • Thủy điện • Năng lượng tái tạo • Năng lượng mặt trời • Năng lượng gió 7 • Năng lượng địa nhiệt • Năng lượng sinh khối Tiêu thụ năng lượng và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ không thể tách rời, nó ảnh hưởng đến tình hình phát triển về mọi mặt của quốc gia, việc điều phôi 1. Khái niệm tiêu thụ năng lượng Suất tiêu hao năng lượng (SEC) là tổng năng lượng tiêu hao của một công đoạn sản xuất (công đoạn) được tính bằng MJ (1.000 J) để sản xuất ra một tấn sản phẩm.
Định mức tiêu hao năng lượng là suất tiêu hao năng lượng (SEC) tiên tiến tương ứng với từng giai đoạn do Bộ Công Thương quy định trong từng thông tư đối với từng ngành sản xuất. Mức tiêu hao trong năng lượng là chỉ tiêu tổng hợp cho biết để tạo ra một đồng tổng sản phẩm trong nước (GDP) thì cần sử dụng bao nhiêu đồng năng lượng cho sản xuất Tăng/giảm mức tiêu hao năng lượng cho sản xuất so với tổng sản phẩm trong nước phản ánh kết quả của việc đổi mới công nghệ, đổi mới quy trình sản xuất và áp dụng các sáng kiến cải tiến kỹ thuật để giảm mức tiêu hao năng lượng trong sản xuất kinh doanh. Tăng/ giảm mức tiêu hao năng lượng còn do sự thay đổi cấu trúc nền kinh tế, có thể giảm mức tiêu hao năng lượng so với GDP bằng cách hạn chế các ngành, hoạt động tiêu tốn nhiều năng lượng và phát triển các ngành, hoạt động ít tiêu hao năng lượng hơn. Trong đó năng lượng dùng cho sản xuất gồm: Xăng, dầu, khí, than, điện,.
Công thức tính mức tiêu thụ năng lượng Công thức tính mức tiêu thụ năng lượng: Mức tiêu hthụ năng lượng cho sản Mức tiêu thụ năng lượng cho xuất = sản xuất so với GDP GDP Mức tiêu thụ năng Tăng/giảm mức tiêu Mức tiêu thụ năng lượng cho sản xuất so thụ nhiên liệu cho sản = lượng cho sản xuất so – với GDP năm trước xuất so với GDP (%) với GDP năm báo cáo năm báo cáo 1. Khái niệm về phát thải CO2 1. Khái niệm vê phát thải khí CO2 CO2 là tên viết tắt của khí Cacbonic, loại khí này còn được biết đến với tên khác là Cacbondioxit. Ngoài ra, trong dạng rắn khí thải CO2 còn được gọi là băng khô Sự phát thải khí CO2 phần lớn là do các phản ứng đốt cháy, nếu ở mức cho phép CO2 không hề gây ảnh hưởng đến môi trường, mọi hoạt động đều diễn ra bình thường, nhưng nếu hàm lượng CO2 tăng cao sẽ là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây nên hiện tượng hiệu ứng nhà kính, ảnh hưởng đến khí hậu trên toàn địa cầu 1.
Nguồn gốc phát thải khí CO2 Khí CO2 được sinh ra, được đến từ rất nhiều nguồn khác nhau, bao gồm: - Khí thoát ra từ các vụ phun trào núi lửa 9 - Là sản phẩm cháy của các hợp chất hữu cơ và hoạt động hô hấp của các sinh vật sống hiếu khí. - CO2 còn là kết quả sau quá trình lên men vi sinh vật và hô hấp của tế bào. - Các sinh vật di dưỡng cũng sử dụng Oxy để hô hấp rồi sau đó thải ra Cacbon dioxide, tạo thành một chu trình, vòng lặp tuần hoàn. - Tiếp đến là quá trình phân hủy xác động vật thối rữa cũng hình thành nên khí Cacbon dioxide - Khí thải đến từ ngành công nghiệp, hay quá trình đốt nhiên liệu của các loại phương tiện giao thông vận tải hoặc hoạt động đun nấu trong sinh hoạt của con người, hay đến từ nạn đốt phá rừng bừa bãi cũng gây ra phát thải khí CO2 trong không khí.
- Ngoài ra trong ngành công nghiệp sản xuất, khí CO2 được phát sinh ra từ những khí xuất ra trong quá trình lên men rượu bia, sản xuất hóa chất như amoniac, phân hủy chất béo, tổng hợp methanol hoặc từ khói của các nhà máy đốt than công nghiệp. Tác hại của khí CO2 Trước hết việc gia tăng nồng độ khí Cacbon dioxit vào môi trường làm gia tăng trầm trọng hiệu ứng nhà kính, ảnh hưởng rất nhiều đến sự biến đổi khí hậu, thời tiết gây ra hiện tượng nóng lên của trái đất, chỉ số tia UV tăng cao, hạn hạn, cháy rừng v. Tác hại của CO2 đến môi trường không thể không nói đến làm trái đất nóng lên làm ảnh hưởng trực tiếp đời sống của con người và các sinh vật trên trái đất. Tác hại dễ nhận thấy nhất của khí CO2 là nồng độ than khí trong không khí quá cao, chẳng hạn như ở trong phòng kín chứa nồng độ Cacbon dioxit quá cao dẫn đến tình trạng thiếu oxi cho cơ thể, gây ngạt thở.
10 Việc khí CO2 xuất hiện ngày càng nhiều sẽ gây nên những ảnh hưởng không nhỏ đến sự sống của bản thân chúng ta, kéo theo đó là nhiều hệ lụy đi sau về năng lượng, môi trường, không khí cho thế hệ sau này. Lý thuyết về đường cong Kuznets Khái niệm đường cong môi trường Kuznets hay còn được gọi là EKC lần đầu được nhắc đến trong báo cáo phát triển thế giới của Ngân hàng thế giới (World Bank, 1992). Báo cáo lập luận rằng “Quan điểm cho rằng các hoạt động kinh tế lớn chắc chắn sẽ gây hại đến môi trường dựa trên những giả định tĩnh về công nghệ, thị hiếu và đầu tư vào môi trường” và cho rằng “Khi thu nhập tăng lên, nhu cầu cải thiện chất lượng môi trường sẽ tăng, cũng như sẽ tăng nguồn lực đầu tư sẵn có”. Giả thuyết EKC trước hết được xây dựng dựa trên nghiên cứu ban đầu của Kuznets (1955) ông cho rằng: Sự bất bình đẳng trong thu nhập sẽ gia tăng đồng thời với mức gia tăng của thu nhập, sau đó sự gia tăng thu nhập này đạt đến một mức độ thích hợp, thì sẽ làm giảm bất bình đẳng thu nhập.
Mối quan hệ giữa bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế giả định là mối quan hệ phi tuyến tính và có hình dạng chữ U ngược, được hiểu là, trong giai đoạn đầu của tăng trưởng kinh tế phân phối thu nhập cũng như bất bình đẳng sẽ gia tăng, tuy nhiên ngược lại tại giai đoạn sau của quá trình tăng trưởng sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập của nền kinh tế sẽ được sụt giảm và dần trở nên bình đẳng. Dựa trên lý thuyết về đường cong Kuznets, giả định EKC được khai thác và nghiên cứu, giả định rằng, ở cấp độ phát triển cao hơn của kinh tế, những thay đổi cơ cấu tập trung vào phát triển sản xuất và dịch vụ sử dụng kiến thức về môi trường và thi luật môi trường, công nghệ thân thiện hơn và tăng chi tiêu bảo vệ môi trường, chúng giảm dần sự suy thoái về môi trường. 11 Grossman và Krueger (1991) đã thực hiện nghiên cứu về mối quan hệ giữa chất lượng môi trường và tăng trưởng kinh tế trong nghiên cứu về Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ và ô nhiễm không khí ở Mexico. Nghiên cứu cho rằng, tự do thương mại cũng ảnh hưởng đến môi trường bởi việc mở rộng quy mô hoạt động, thay đổi phương thức sản xuất.
Về các giải đoạn phát triển của giả thiết EKC, có 3 giai đoạn cơ bản, chính là: Giai đoạn trước công nghiệp hóa; Giai đoạn công nghiệp hóa; Giai đoạn sau công nghiệp hóa, tại các giai đoạn, tăng trưởng kinh tế có ảnh hưởng đến chất lượng môi trường theo những cách khác nhau (Hình 1.1: Mô tả về đường cong Kuznets tại từng giai đoạn).