CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THU NHẬP NGOÀI LÃI VÀ KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 1. Cơ sở lý thuyết về khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm khả năng sinh lời trong hoạt động của NHTM Mục tiêu cuối cùng của hoạt động kinh doanh là lợi nhuận. Khi phân tích hoạt động kinh doanh thì không phải chỉ quan tâm đến tổng lợi nhuận mà cần phải đặt lợi nhuận trong mối quan hệ với vốn, tài sản, nguồn lực kinh tế được sử dụng để tạo ra lợi nhuận.
Farrell (1957) cho rằng các doanh nghiệp hoạt động vì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận bằng cách tối đa hóa doanh thu và tối thiểu hóa chi phí. Theo đó, hiệu quả kinh doanh có thể được hiểu ở hai khía cạnh: thứ nhất là khả năng kiểm soát KNSL hoặc giảm thiếu chi phí để tăng khả năng cạnh tranh với các đối thủ, thứ hai là khả năng kết hợp tối thiểu chi phí đầu vào để tối đa hóa doanh thu đầu ra. Đối với hệ thống NHTM, Sealey và Lindley (1977) cho rằng theo lý thuyết kinh tế vĩ mô truyền thống thì ngân hàng và công ty chỉ khác nhau ở đặc điểm hoạt động, nghiệp vụ chính của NHTM là trung gian tài chính, huy động vốn nhàn rỗi từ nền kinh tế rồi sinh lãi bằng các nghiệp vụ cho vay, đầu tư chứng khoán và các nghiệp vụ đầu tư khác. Rose (2002) cũng cùng quan điểm khi cho rằng, việc đánh giá hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thì cũng dựa trên những nền tảng lý thuyết đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nhưng xem xét thêm đến các tính chất đặc thù của ngân hàng.
Theo tác giả, các ngân hàng không chỉ tập trung vào khả năng tạo ra lợi nhuận mà còn phải đảm bảo an toàn cho các hoạt động kinh doanh. Nói bao quát hơn, các ngân hàng không chỉ quan tâm đến nguồn thu mà lợi nhuận mang lại này phải đạt được từ cơ cấu tài sản Nợ - Có hợp lý và an toàn. Như vậy, KNSL có thể hiểu là hiệu quả hoạt động của Ngân hàng. Tùy theo mục đích nghiên cứu có thể xét hiệu quả theo những khía cạnh khác nhau.
Tuy nhiên xuất phát từ những hạn chế về thời gian và nguồn số liệu, do vậy quan điểm về hiệu 12 quả mà nghiên cứu sử dụng để đánh giá hoạt động của các NHTM là dựa trên tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế. Thể hiện mối quan hệ tối ưu giữa kết quả kinh tế đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Các chỉ số đo lường khả năng sinh lời của NHTM KNSL là mục tiêu được nhà quản trị lẫn nhà đầu tư quan tâm vì lợi nhuận cao sẽ giúp các ngân hàng bảo toàn vốn, tăng thị phần và thu hút đầu tư. Chính vì vậy đã có rất nhiều nghiên cứu được thực hiện để đo lường KNSL của ngân hàng.
Có rất nhiều tỷ số được lựa chọn để đo lường KNSL như: tỷ lệ thu nhập lãi thuần (NIM), tỷ lệ TNNL thuần (NNIM), tỷ lệ chi phí thu nhập (CIR), tỷ số lợi nhuận biên trên tài sản (ROA - Return on assets) và tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE – Return on Equity). Tùy vào dữ liệu và mục tiêu nghiên cứu thì các tỷ số được lựa chọn tương ứng. Tỷ lệ thu nhập lãi thuần (NIM) Tỷ lệ thu nhập lãi thuần phản ánh tốc độ tăng trưởng nguồn thu từ lãi so với tốc độ tăng chi phí. Chỉ tiêu này càng cao phản ánh ngân hàng đã tối đa hóa các nguồn thu từ lãi và giảm thiểu chi phí lãi Tỷ lệ TNNL thuần (NNIM) Tỷ lệ TNNL phản ánh tốc độ tăng trưởng nguồn thu ngoài lãi so với chi phí ngoài lãi.
Nếu tỷ số này của ngân hàng tăng lên so với năm trước chứng tỏ ngân hàng tăng TNNL để bù đắp các chi phí ngoài lãi. Tỷ số này càng cao là càng tốt với hoạt động của ngân hàng. Tỷ lệ chi phí thu nhập (CIR) 13 Tỷ lệ chi phí thu nhập phản ánh mối tương quan giữa chi phí và thu nhập của ngân hàng. Chỉ tiêu này cung cấp thông tin về hiệu quả hoạt động của ngân hàng, chỉ tiêu này càng nhỏ thì ngân hàng đó hoạt động càng hiệu quả.
Tỷ số lợi nhuận thuần trên tài sản (ROA - Return on assets) Tỷ số này càng lớn chứng tỏ hiệu quả kinh tế của việc sử dụng tài sản càng cao và ngược lại. Tỷ số này được tính ra bằng cách lấy lợi nhuận ròng (hoặc lợi nhuận sau thuế) của ngân hàng trong kỳ báo cáo (có thể là 1 tháng, 1 quý, nửa năm, hay một năm) chia cho bình quân tổng giá trị tài sản của ngân hàng trong cùng kỳ. ROA càng cao chứng tỏ ngân hàng sử dụng tài sản càng hiệu quả, công tác quản lý tài sản của ngân hàng tốt Theo mô hình DuPont, ROA còn được tính theo công thức sau: Phương trình tách ROA của DuPont cho thấy tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản phụ thuộc hai yếu tố: - Quy mô lợi nhuận sau thuế được tạo ra từ mỗi đồng thu nhập thuần, thể hiện qua hệ số NPM. Hệ số này gián tiếp thể hiện khả năng quản lý chi phí và hiệu quả hoạt động của ngân hàng.
Nếu ngân hàng quản lý chi phí tốt thì có thể làm tăng NPM và từ đó cải thiện tỷ suất sinh lời trên tài sản. Ngược lại, một ngân hàng có hiệu quả hoạt động thấp, quản lý chi phí kém thì NPM sẽ thấp, từ đó làm giảm tỷ suất sinh lợi trên tài sản. - Quy mô thu nhập thuần được tạo ra từ mỗi đồng vốn đầu tư vào tổng tài sản, thể hiện qua hệ số vòng quay tổng tài sản (còn gọi là hiệu suất sử dụng tổng tài sản). Hệ số này phản ánh hiệu quả và tần suất khai thác tổng tài sản của ngân hàng.
Như vậy, 14 nếu ngân hàng có thể tăng hiệu quả khai thác tài sản thì cũng sẽ cải thiện được tỷ số lợi nhuận trên tài sản ROA. Tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE – Return on Equity) Tỷ suất này cho biết quy mô lợi nhuận sau thuế được tạo ra từ mỗi đồng vốn đầu tư của các chủ sở hữu, từ đó phản ánh hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu của ngân hàng và mức lợi nhuận tương đối mà các cổ đông được hưởng khi đầu tư vào ngân hàng. Do đó, tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu ROE là một chỉ tiêu được các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm, thường xuyên được sử dụng làm cơ sở đánh giá KNSL của ngân hàng, giúp các nhà đầu tư tiềm năng ra quyết định trong hoạt động đầu tư vào ngân hàng. Theo mô hình Dupont, ROE còn được tính theo công thức: Sự phân tách chỉ tiêu ROE thành tích của ba chỉ tiêu thành phần theo phương trình trên của DuPont là hữu ích bởi nó cho thấy tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản phụ thuộc ba yếu tố: Hiệu quả hoạt động – khả năng quản lý chi phí của ngân hàng – thể hiện qua NPM (i); Hiệu quả sử dụng và quản lý tài sản của ngân hàng – thể hiện qua Vòng quay tổng TS (ii) và Cơ cấu vốn của ngân hàng – thể hiện qua hệ số nhân vốn chủ sở hữu EM.
Phương pháp phân tích khả năng sinh lời trong hoạt động của ngân hàng thương mại Có hai phương pháp thường được dùng trong nghiên cứu để phân tích KNSL của NHTM, đó là sử dụng phương trình Dupont và phương trình hồi quy. Bản chất của phương trình Dupont là tách một chỉ số tổng hợp thành tích của chuỗi các tỉ số có mối quan hệ nhân quả với nhau hay tách một chỉ tiêu thứ cấp thành chỉ tiêu sơ cấp. Chẳng hạn như khi nghiên cứu về chỉ số ROA – KNSL trên tài sản, áp dụng phương trình Dupont, ta có thể phân thành tích của 2 thành phần như sau: 15 Cách phân tích như trên cho thấy được biến động ROA qua các năm được đóng góp bởi hiệu quả hiệu quả tiết kiệm chi phí và hiệu quả sử dụng tài sản như thế nào. Mặc dù có ưu điểm là cách thức thực hiện đơn giản nhưng phương pháp Dupont lại bộc lộ hạn chế nhất định.
Mỗi chỉ số tài chính thể hiện một khía cạnh trong hoạt động kinh doanh ngân hàng nên để có cái nhìn phân tích toàn diện đòi hỏi nhà nghiên cứu phải tổng hợp các chỉ số lại nhưng công việc này khác phức tạp và rất dễ gây nhầm lẫn khi đưa ra các nhận xét (Manandhar & Tang, 2002). Cách thứ hai là phương pháp hồi quy với các biến trong mô hình chủ yếu là các hệ số tài chính – cũng là phương pháp được tác giả sử dụng trong bài nghiên cứu này, vì ưu điểm của nó là nghiên cứu được tác động của tất cả các nhân tố bên trong và bên ngoài có tác động đến KNSL của ngân hàng. Phương pháp này sử dụng một hay một vài chỉ số đóng vai trò là biến phụ thuộc đo lường khả năng sinh lời, các biến giải thích trong mô hình là các hệ số tài chính, và một số chỉ số thể hiện đặc điểm của ngân hàng, đặc điểm ngành, đặc điểm nền kinh tế. Do đó, kết quả của mô hình hồi quy được đánh giá là khá tin cậy, đánh giá được tác động của các nhân tố bên trong và bên ngoài đến KNSL của ngân hàng, và được sử dụng để đưa ra các kiến nghị, giải pháp.
Phương pháp này đã được sử dụng ở nhiều nghiên cứu như bài của Syafri (2012), Husni Ali Khrawish (2011), Usman Dawood (2014), Lê Đồng Duy Trung (2020), Nguyễn Phạm Nhã Trúc (2016) … 1. Các nhân tố tác động đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Trên thế giới đã có rất nhiều bài nghiên cứu về KNSL của NHTM chịu tác động bởi những nhân tố nào. Nghiên cứu của Athanasoglou, Brissimis & Delis (2008) về các nhân tố tác động đến KNSL của hệ thống NHTM Hy Lạp giai đoạn 1985 – 2001 đã khẳng định KNSL của NHTM chịu tác động bởi 3 nhóm nhân tố chính là: Đặc điểm của ngân hàng, đặc điểm ngành ngân hàng và đặc điểm môi trường kinh tế. Husni Ali Khrawish (2011) trong ghiên cứu phân tích các yếu tố có thể ảnh hưởng đến hoạt động của các ngân hàng thương mại Jordan trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2010 đã khẳng định có hai nhóm nhân tố quyết định đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại, đó là các nhân tố bên trong và các nhân tố bên ngoài.