Tổng quan nghiên cứu

Thị trường chứng khoán Việt Nam được khởi động từ ngày 28/11/1996 với sự ra đời của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước theo Nghị định 75/CP. Sau phiên giao dịch mở màn vào ngày 28/7/2000 với quy mô vốn hóa ban đầu chỉ vỏn vẹn 270 tỷ đồng của 2 mã cổ phiếu, thị trường đã có bước đại nhảy vọt khi giá trị vốn hóa chạm mốc 24,4 tỷ USD vào tháng 4/2007, tương đương 38% GDP của cả nước. Vấn đề nghiên cứu cốt lõi của đề tài tập trung giải quyết yêu cầu khách quan trong việc thiết lập một kênh huy động vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Mục tiêu cụ thể của luận văn là phân tích, luận giải một cách toàn diện và có hệ thống vai trò cùng tác động đa chiều của thị trường chứng khoán đối với nền kinh tế Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu về mặt không gian bao quát toàn bộ thị trường tài chính quốc gia với trọng tâm là hai trung tâm giao dịch tại Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội. Phạm vi thời gian kéo dài từ năm 1996 khi thành lập cơ quan quản lý đến năm 2008 khi thị trường trải qua chu kỳ điều chỉnh sâu dưới tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu.

Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện qua việc làm rõ sự chuyển dịch cơ cấu dòng vốn xã hội, khi tỷ trọng vốn hóa toàn thị trường đạt 30,4% GDP vào năm 2006. Luận văn cung cấp luận cứ khoa học vững chắc về sự hình thành một thể chế tài chính bậc cao, phục vụ đắc lực cho công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết tích tụ và tập trung tư bản cùng lý thuyết cấu trúc thị trường tài chính hiện đại để làm rõ bản chất của thị trường chứng khoán. Theo khung lý thuyết này, thị trường chứng khoán giữ vai trò chuyển hóa các nguồn tiết kiệm nhàn rỗi phân tán trong xã hội thành các khoản đầu tư dài hạn phục vụ tái sản xuất mở rộng. Đồng thời, tác giả kết hợp lý thuyết thị trường hiệu quả nhằm phân tích khả năng định giá tài sản và chức năng làm phong vũ biểu đo lường sức khỏe của nền kinh tế.

Mô hình nghiên cứu đặt thị trường chứng khoán trong mối quan hệ hữu cơ với hệ thống tài chính tổng thể, bao gồm thị trường tiền tệ và thị trường vốn. Khung phân tích làm rõ 5 khái niệm chuyên ngành then chốt:

  • Thị trường sơ cấp: Kênh phát hành chứng khoán lần đầu nhằm trực tiếp thu hút vốn cho tổ chức phát hành.
  • Thị trường thứ cấp: Không gian giao dịch mua đi bán lại các chứng khoán đã lưu hành, đảm nhận chức năng điều tiết và phân phối lại nguồn lực tài chính.
  • Cổ phiếu và Trái phiếu: Hai công cụ tài chính cơ bản xác lập quyền sở hữu tài sản hoặc nghĩa vụ nợ của doanh nghiệp và Chính phủ.
  • Tính thanh khoản: Thước đo khả năng chuyển đổi linh hoạt giữa chứng khoán và tiền mặt với chi phí giao dịch thấp nhất.
  • Chỉ số thị trường: Công cụ phản ánh biến động giá bình quân của toàn bộ danh mục tài sản niêm yết trên sàn giao dịch.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và phương pháp lịch sử kết hợp logic làm chỉ đạo xuyên suốt, xem xét các hiện tượng tài chính trong sự vận động không ngừng. Nguồn dữ liệu thứ cấp được trích xuất chính thức từ Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước và các định chế quốc tế như Ngân hàng Thế giới từ năm 1996 đến năm 2008.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao trùm toàn bộ các chứng khoán niêm yết trên hai sàn giao dịch, tăng từ 2 mã cổ phiếu năm 2000 lên 315 doanh nghiệp niêm yết và 55 công ty chứng khoán thành viên vào cuối năm 2008. Phương pháp chọn mẫu toàn bộ được áp dụng nhằm đảm bảo tính bao quát 100% dữ liệu thực tế mà không bị sai lệch bởi việc ước lượng mẫu nhỏ. Phương pháp phân tích thống kê mô tả, phân tích chuỗi thời gian và so sánh đối chiếu được lựa chọn nhằm phản ánh chân thực các quy luật vận động của chỉ số thị trường. Toàn bộ tiến trình xử lý dữ liệu và hoàn thiện luận văn được tác giả thực hiện tập trung trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2009.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, thị trường chứng khoán đã khẳng định vị thế là kênh dẫn vốn trung và dài hạn quan trọng hàng đầu cho nền kinh tế. Giá trị vốn hóa thị trường cổ phiếu tăng từ khoảng 0,5 tỷ USD trước năm 2006 lên mức 13,8 tỷ USD (chiếm 22,7% GDP) vào tháng 12/2006 và vọt lên 24,4 tỷ USD (chiếm 38% GDP) vào tháng 4/2007, tăng trưởng hơn 1.400 lần so với thời điểm năm 2000. Khi tính gộp cả thị trường trái phiếu, tổng quy mô huy động đạt mức 46% GDP.

Thứ hai, thị trường tạo ra sự chuyển dịch mạnh mẽ trong cơ cấu dòng tiền xã hội và thu hút vượt bậc nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài. Tổng giá trị vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài lũy kế đến cuối năm 2007 đạt khoảng 4 tỷ USD với sự hiện diện của 35 quỹ đầu tư chuyên nghiệp (gồm 23 quỹ ngoại và 12 quỹ nội). Số lượng tài khoản giao dịch mở mới tăng trưởng nhanh chóng từ khoảng 40.000 tài khoản lên xấp xỉ 300.000 tài khoản vào năm 2008, trong đó có hơn 7.000 tài khoản của nhà đầu tư nước ngoài.

Thứ ba, thị trường đóng vai trò đòn bẩy thúc đẩy chương trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước gắn với nâng cao thanh khoản. Số lượng doanh nghiệp niêm yết tăng 704% trong giai đoạn 2000 - 2007. Giá trị giao dịch bình quân mỗi phiên từ mức vài chục triệu đồng năm 2000 đã nhảy vọt lên 600 đến 700 tỷ đồng mỗi phiên tại Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 12/2006.

Thứ tư, tính ổn định của thị trường còn thấp và tiềm ẩn nhiều rủi ro đầu cơ. Chỉ số VN-Index sau khi đạt đỉnh lịch sử 1.170,67 điểm vào ngày 12/03/2007 đã bước vào chu kỳ suy giảm nghiêm trọng, rơi xuống mức 315,62 điểm vào phiên cuối cùng của năm 2008, tương ứng mức giảm hơn 73% giá trị.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản tạo nên sự tăng trưởng bùng nổ giai đoạn 2006 - 2007 bắt nguồn từ kỳ vọng tích cực khi Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) cùng với hiệu lực của Luật Chứng khoán năm 2006. Tuy nhiên, sự đổ vỡ sau đó bắt nguồn từ các cú sốc bên ngoài của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 kết hợp với những bất cập nội tại: giao dịch mang nặng tâm lý bầy đàn do hơn 99% người tham gia là nhà đầu tư cá nhân thiếu kinh nghiệm.

Khi so sánh với các công trình nghiên cứu về thị trường tài chính khu vực châu Á trong cuộc khủng hoảng năm 1997, kết quả của luận văn khẳng định sự tương đồng về mức độ nhạy cảm của các thị trường mới nổi trước dòng vốn nóng. Dữ liệu nghiên cứu được biểu diễn trực quan thông qua bảng đối sánh quy mô vốn hóa trên GDP qua các mốc năm 2000, 2005, 2006, 2007, 2008 kết hợp biểu đồ diễn biến đường xu hướng VN-Index, chứng minh rõ ràng vai trò phong vũ biểu phản ánh sát thực trạng thái vận động của kinh tế vĩ mô.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện đồng bộ khung chính sách kinh tế vĩ mô và thể chế pháp luật. Chính phủ cùng Bộ Tài chính cần tiếp tục rà soát, nâng cấp các văn bản dưới Luật Chứng khoán năm 2006, đồng thời thống nhất điều hành chính sách tiền tệ và tài khóa nhằm kiểm soát lạm phát dưới ngưỡng 7% và duy trì ổn định tỷ giá hối đoái trong lộ trình 2009 - 2012.

Thứ hai, điều tiết chủ động quan hệ cung - cầu và đa dạng hóa sản phẩm niêm yết chất lượng cao. Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp cần đẩy mạnh tiến độ đấu giá cổ phần gắn với niêm yết bắt buộc đối với các tập đoàn, tổng công ty nhà nước lớn, phấn đấu nâng quy mô cung hàng hóa chất lượng đạt tối thiểu 30% tổng mức vốn hóa toàn thị trường trước năm 2011.

Thứ ba, nâng cấp hạ tầng công nghệ và mở rộng hệ thống định chế tài chính trung gian. Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cần hiện đại hóa hạ tầng giao dịch tại hai Sở giao dịch, tạo điều kiện thành lập các quỹ mở và quỹ hưu trí tự nguyện, đặt mục tiêu nâng tỷ trọng giao dịch của nhà đầu tư tổ chức lên mức 15% tổng tài khoản toàn thị trường vào năm 2015.

Thứ tư, thúc đẩy hội nhập quốc tế gắn với kiểm soát chặt chẽ các dòng vốn gián tiếp. Ngân hàng Nhà nước cùng Bộ Kế hoạch và Đầu tư cần xây dựng hàng rào giám sát dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài khoảng 4 tỷ USD, nới lỏng giới hạn sở hữu nước ngoài theo cam kết hội nhập nhưng có cơ chế cảnh báo sớm nhằm ngăn chặn tình trạng rút vốn đột ngột trong giai đoạn 2009 - 2015.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách thuộc Bộ Tài chính và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước. Nhóm đối tượng này khai thác cơ sở thực tiễn về chu kỳ tăng trưởng và suy thoái giai đoạn 1996 - 2008 để hoàn thiện cơ chế quản lý giám sát, xây dựng chiến lược phát triển thị trường vốn dài hạn.

Nhóm 2: Lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước và các công ty cổ phần. Nghiên cứu cung cấp bức tranh chi tiết về quy trình huy động vốn, kinh nghiệm định giá cổ phần khi tiến hành cổ phần hóa và phương thức nâng cao tính minh bạch quản trị doanh nghiệp khi niêm yết.

Nhóm 3: Các nhà đầu tư cá nhân, công ty chứng khoán và quỹ đầu tư. Đối tượng này nắm bắt được quy luật tâm lý thị trường, nhận diện rủi ro bầy đàn từ dữ liệu 300.000 tài khoản thực tế để xây dựng chiến lược phân bổ danh mục đầu tư an toàn.

Nhóm 4: Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên các chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng và Lịch sử kinh tế. Công trình là nguồn tư liệu học thuật phong phú, cung cấp bức tranh sử liệu kinh tế chuẩn xác về giai đoạn định hình thị trường chứng khoán Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Thị trường chứng khoán Việt Nam được chính thức thành lập và vận hành vào thời điểm nào? Ủy ban Chứng khoán Nhà nước được thành lập ngày 28/11/1996 theo Nghị định 75/CP, thực hiện vai trò chuẩn bị thể chế trước khi thị trường ra đời. Phiên giao dịch chính thức đầu tiên diễn ra vào ngày 28/7/2000 tại Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh với 2 mã cổ phiếu ban đầu có vốn điều lệ 270 tỷ đồng.

Quy mô vốn hóa thị trường chứng khoán giai đoạn bùng nổ 2006 - 2007 đạt mức bao nhiêu? Giá trị vốn hóa thị trường cổ phiếu đã tăng đột biến từ mức 13,8 tỷ USD (tương đương 22,7% GDP) vào tháng 12/2006 lên mức 24,4 tỷ USD (tương đương 38% GDP) vào cuối tháng 4/2007. Khi tính gộp cả thị trường trái phiếu, tổng dung lượng thị trường đạt tỷ lệ 46% GDP.

Chỉ số VN-Index đã có những biến động lịch sử nào trong giai đoạn 1996 - 2008? Từ mốc xuất phát 100 điểm năm 2000, VN-Index liên tục thiết lập đỉnh cao và đạt kỷ lục lịch sử 1.170,67 điểm vào ngày 12/03/2007. Dưới tác động của suy thoái toàn cầu và điều chỉnh nội tại, chỉ số đã giảm sâu xuống còn 315,62 điểm tại phiên cuối năm 2008.

Dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài có mức độ tác động ra sao đối với thị trường? Dòng vốn gián tiếp nước ngoài đã giải ngân lũy kế khoảng 4 tỷ USD tính đến cuối năm 2007, thúc đẩy thanh khoản thị trường. Số lượng tài khoản nhà đầu tư nước ngoài vượt 7.000 tài khoản với sự tham gia của 23 quỹ đầu tư ngoại vào năm 2008.

Vì sao thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn này mang nặng tâm lý bầy đàn? Hiện tượng bầy đàn xuất hiện do hơn 99% lực lượng tham gia là nhà đầu tư cá nhân nhỏ lẻ thiếu kiến thức định giá chuyên sâu, trong khi các định chế đầu tư tổ chức chỉ chiếm 1%. Thị trường thiếu vắng các công cụ phòng ngừa rủi ro khiến giao dịch bị dẫn dắt bởi tin đồn.

Kết luận

  • Công trình khẳng định thị trường chứng khoán là một bước đột phá thể chế kinh tế quan trọng hàng đầu trong tiến trình đổi mới kinh tế Việt Nam sau năm 1986.
  • Nghiên cứu chứng minh năng lực huy động vốn vượt bậc của thị trường khi giá trị vốn hóa chạm đỉnh 38% GDP vào năm 2007 và thu hút hơn 4 tỷ USD dòng vốn FII.
  • Luận văn làm sáng tỏ vai trò đòn bẩy của thị trường đối với tiến trình cổ phần hóa với số lượng doanh nghiệp niêm yết tăng 704% trong giai đoạn 2000 - 2007.
  • Tác giả chỉ rõ tính chất phong vũ biểu nhạy bén của thị trường khi VN-Index phản ánh chính xác chu kỳ vĩ mô qua sự suy giảm về 315,62 điểm năm 2008.
  • Đề tài đóng góp hệ thống tư liệu lịch sử kinh tế giá trị, làm tiền đề vững chắc cho việc hoạch định chiến lược phát triển thị trường vốn đến năm 2020.

Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2010 đến 2015, việc tái cấu trúc thị trường cần được ưu tiên triển khai toàn diện. Các cơ quan quản lý, nhà nghiên cứu và giới đầu tư quan tâm có thể khai thác toàn văn tài liệu để phục vụ công tác hoạch định và nghiên cứu học thuật chuyên sâu.