chương 1 đã đưa ra định hướng nghiên cứu nhằm đạt được các mục tiêu với những nền tảng, công cụ cần thiết chuẩn bị để trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu. Với các chương tiếp theo sau của luận văn, tác giả sẽ bám sát định hướng đề ra và từng bước đạt đến mục tiêu ban đầu cũng như trả lời các câu hỏi đặt ra. 8 CHƢƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Tăng trƣởng tín dụng của ngân hàng thƣơng mại 2.1 Tín dụng ngân hàng 2.1 Khái niệm Trong nền kinh tế hàng hoá, trong cùng một thời gian luôn có một số người tạm thời thừa vốn, có vốn tạm thời nhàn rỗi và có nhu cầu cho vay. Bên cạnh đó luôn có một số người tạm thời thiếu vốn, có nhu cầu đi vay.
Hiện tượng này làm nảy sinh mối quan hệ kinh tế mà nội dung của nó là vốn được dịch chuyển từ nơi tạm thời thừa sang nơi thiếu với điều kiện hoàn trả vốn và lãi tiền vay là lợi nhuận thu được do sử dụng vốn vay. Đây chính là quan hệ tín dụng. Kinh tế học hiện đại cho rằng “Tín dụng là mối quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó một bên chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận tiền hoặc tài sản cam kết hoàn trả vốn gốc và lãi cho bên chuyển giao tiền hoặc tài sản vô điều kiện theo thời hạn đã thoả thuận. Xét dưới gốc độ ngân hàng thì “Tín dụng ngân hàng là một giao dịch giữa hai chủ thể trong đó bên cấp tín dụng (ngân hàng/ tổ chức tín dụng) chuyển giao một tài sản cho bên nhận tín dụng (doanh nghiệp, cá nhân hoặc các chủ thể khác) sử dụng theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Như vậy, tín dụng ngân hàng phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa một bên là ngân hàng và bên còn lại là chủ thể sử dụng đối với nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế, trên cơ sở ngân hàng sẽ chuyển nhượng quyền sử dụng một lượng giá trị hay hiện vật theo những điều kiện cam kết mà hai bên đã thoả thuận, trên nguyên tắc có hoàn trả cả vốn và lãi. Tín dụng ngân hàng là mối quan hệ vay mượn giữa ngân hàng với tất cả các cá nhân, tổ chức và các doanh nghiệp khác trong xã hội. Nó không phải là quan hệ dịch chuyển vốn trực tiếp từ nơi tạm thời thừa sang nơi tạm thời thiếu mà là quan hệ dịch chuyển vốn gián tiếp thông qua một tổ chức trung gian, đó là ngân hàng. Tín dụng ngân hàng cũng mang bản chất chung của quan hệ tín dụng, đó là quan hệ vay 9 mượn có hoàn trả cả vốn và lãi sau một thời gian nhất định, là quan hệ chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn và là quan hệ bình đẳng hai bên cùng có lợi.2 Đặc điểm Tín dụng ngân hàng có các đặc điểm nổi bật nhất như sau: - Dựa trên cơ sở lòng tin: Ngân hàng chỉ cấp tín dụng khi có lòng tin vào việc khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích, hiệu quả và có khả năng hoàn trả nợ vay đúng hạn; còn người đi vay thì tin tưởng vào khả năng kiếm được tiền trong tương lai để trả nợ.
Đây là đặc điểm quan trọng nhất từ đó tạo ra các đặc điểm tiếp theo. Do đó, trong các quyết định cho vay, ngân hàng sắp xếp thứ tự ưu tiên của các tiêu chí như sau: + Tín nhiệm (uy tín, thiện chí) của người vay; + Tính khả thi của dự án (phương án kinh doanh);; + Bảo đảm tiền vay. - Có sự chuyển nhượng một tài sản có thời hạn hay có tính hoàn trả: Ngân hàng là trung gian tài chính đi vay để cho vay, nên mọi khoản tín dụng của ngân hàng đều phải có thời hạn, bảo đảm cho ngân hàng hoàn trả vốn huy động. Để xác định thời hạn cho vay hợp lý, ngân hàng phải căn cứ vào tính chất thời hạn nguồn vốn của mình và quá trình luân chuyển vốn của đối tượng vay.
Nếu ngân hàng có nguồn vốn dài hạn ổn định, thì có thể cấp được nhiều tín dụng dài hạn; ngược lại, nếu nguồn vốn không ổn định và kỳ hạn ngắn, mà cấp nhiều tín dụng dài hạn thì sẽ gặp rủi ro thanh khoản. Mặc khác, thời hạn cho vay phải phù hợp với chu kỳ luân chuyển vốn của đối tượng vay thì người vay mới có điều kiện trả nợ đúng hạn. Nếu ngân hảng xác định thời hạn vay ngắn hơn chu kỳ luân chuyển vốn của đối tượng vay, thì khách hàng không có đủ nguồn để trả nợ khi đến hạn, gây khó khăn cho khách hàng. Ngược lại, nếu thời hạn cho vay dài hơn chu kỳ luân chuyển vốn sẽ tạo điều kiện cho khách hàng sử dụng vốn vay không đúng mục đích, tiềm ẩn rủi ro tín dụng cho ngân hàng.
1 - Dựa trên nguyên tắc không chỉ hoàn trả gốc mà phải trả cả lãi: Nếu không có sự hoàn trả thì không được coi là tín dụng. Giá trị hoàn trả phải lớn hơn giá trị lúc cho vay (giá trị gốc), ngh a là ngoài việc hoàn trả giá trị gốc, khách hàng phải trả cho ngân hàng, một khoản lãi, đây chính là giá của quyền sử dụng vốn vay. Khoản lãi phải bù đắp được chi phí hoạt động và tạo ra lợi nhuận, phản ánh bản chất hoạt động kinh doanh của ngân hàng. - Hoạt động tiềm ẩn rủi ro cao cho ngân hàng: Việc đánh giá độ an toàn của hồ sơ vay vốn là rất khó.
Vì luôn tồn tại thông tin bất cân xứng dẫn đến lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức. Ngoài ra việc thu hồi tín dụng phụ thuộc không những vào bản thân khách hàng, mà còn phụ thuộc vào môi trường hoạt động, ngoài tầm kiểm soát của khách hàng như sự biến động về giá cả, lãi suất, tỷ giá, lạm phát, thiên tai,. Khi khách hàng gặp khó khăn do môi trường kinh doanh thay đổi, dẫn đến khó khăn trong việc trả nợ, điều này khiến cho ngân hàng gặp rủi ro tín dụng. - Trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện: Quá trình xin vay và cho vay diễn ra trên cơ sở những căn cứ pháp lý chặt chẽ như: Hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ, hợp đồng thế chấp, hợp đồng bão lãnh., trong đó bên đi vay (và bên bảo lãnh (nếu có)) phải cam kết hoàn trả vô điều kiện khoản vay cho ngân hàng khi đến hạn.3 Phân loại Việc phân loại tín dụng ngân hàng có thể dựa trên một số tiêu thức khác nhau, như căn cứ vào thời hạn cấp tín dụng, phương thức cấp tín dụng, tài sản bảo đảm,… Sau đây là một số cách phân loại tín dụng ngân hàng được áp dụng rộng rãi.
Căn cứ vào thời hạn tín dụng: Phân chia theo thời gian có ngh a quan trọng đối với ngân hàng vì thời gian liên quan mật thiết đến tính thanh khoản của ngân hàng, chu kỳ vốn và khả năng hoàn trả của khách hàng. Theo đó tín dụng ngân hàng phân theo thời hạn gồm có: - Tín dụng ngắn hạn: có thời hạn từ 12 tháng trở xuống. Chủ yếu được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt về vốn lưu động của các doanh nghiệp và nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của các cá nhân. 1 - Tín dụng trung hạn: có thời hạn từ 12 tháng đến 60 tháng.
Trọng tâm tập trung vào đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh. - Tín dụng dài hạn: có thời hạn trên 60 tháng. Mục đích thông thường được sử dụng để đáp ứng nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà ở, đầu tư xây dựng các xí nghiệp mới, các công trình thuộc cơ sở hạ tầng, cái tiến và mở rộng sản xuất có quy mô. Căn cứ vào hình thức cấp tín dụng: Dựa vào tiêu chí này tín dụng bao gồm: cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng.
Trong đó theo định ngh a của NHNN trong Luật các Tổ chức tín dụng (TCTD) năm 2010 thì: - Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. - Bao thanh toán là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ. - Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện ngh a vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ ngh a vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng theo thỏa thuận. - Chiết khấu là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán.
- Cho thuê tài chính là việc cấp tín dụng trung hạn, dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài chính và phải có một trong các điều kiện sau đây: (1) Khi kết thúc 1 thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được nhận chuyển quyền sở hữu tài sản cho thuê hoặc tiếp tục thuê theo thỏa thuận của hai bên; (ii) Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được quyền ưu tiên mua tài sản cho thuê theo giá danh ngh a thấp hơn giá trị thực tế của tài sản cho thuê tại thời điểm mua lại; (iii) Thời hạn cho thuê một tài sản phải ít nhất bằng 60% thời gian cần thiết để khấu hao tài sản cho thuê đó; (iv) Tổng số tiền thuê một tài sản quy định tại hợp đồng cho thuê tài chính ít nhất phải bằng giá trị của tài sản đó tại thời điểm k hợp đồng. Căn cứ vào hình thức bảo đảm: Dựa vào tiêu chí này tín dụng bao gồm tín dụng có bảo đảm và tín dụng không có bảo đảm: - Tín dụng có bảo đảm: là việc khách hàng dùng tài sản bảo đảm của mình hoặc bên thứ ba làm bảo đảm cho ngh a vụ vay vốn ở ngân hàng.