CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan về Doanh nghiệp nhỏ và vừa: 1. Tiêu chí xác định DNNVV: 1. Theo quy định của chính phủ Việt Nam: Tùy thuộc đặc điểm của từng quốc gia, từng giai đoạn phát triển kinh tế mà đưa ra những quy định về DNNVV.
Khi định nghĩa về DNNVV, các nước thường căn cứ vào quy mô về vốn của doanh nghiệp, số lao động thường xuyên tại doanh nghiệp, tổng doanh thu, tổng tài sản… của doanh nghiệp. Tại Việt Nam hiện nay, căn cứ vào đặc điểm, tình hình thực tế của đất nước, ngày 11/03/2018 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 39/2018/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa. Theo đó, doanh nghiệp nhỏ và vừa được phân loại theo quy mô tổng nguồn vốn hoặc số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm, cụ thể như sau: Bảng 1. Khái niệm DNNVV theo Nghị định số 39/2018/NĐ – CP ngày 11/03/2018 Doanh nghiệp siêu nhỏ Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa Số lao Số lao Số lao động động động Tổng Tổng Tổng Tiêu đóng đóng đóng doanh Tổng doanh Tổng doanh Tổng chí/Lĩnh Bảo Bảo Bảo thu nguồn thu nguồn thu nguồn vực hiểm hiểm hiểm của vốn của vốn của vốn xã hội xã hội xã hội năm năm năm bình bình bình Quân Quân Quân 1 Nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh 10 3 3 100 50 20 200 200 100 vực công nghiệp, xây dựng Lĩnh vực thương 10 10 3 50 100 50 100 300 100 mại, dịch vụ (Nguồn: Nghị định số 39/2018/NĐ – CP ngày 11/03/2018 của Chính phủ) 1.
Theo quy định của BIDV: Tiêu chí xác định DNNVV được BIDV hướng dẫn cụ thể và điều chỉnh trong từng thời kỳ. Hiện nay đang áp dụng hướng dẫn xác định khách hàng DNNVV theo tiêu chí nội bộ BIDV tại Công văn số 1350/BIDV-KHDNNVV ngày 29/03/2021, trong đó có các nội dung chính như sau: Đối với những KHDN mà BIDV có thông tin về tình hình tài chính của DN (có quan hệ tín dụng hoặc KHDN không có quan hệ tín dụng): 1 Bảng 1. Xác định DNNVV đối với những KHDN mà BIDV có thông tin về tình hình tài chính của DN Trường hợp Phân khúc Điều kiện 1. DNNVV 0< Doanh thu thuần bình quân < 500 tỷ đồng Là khách hàng thỏa mãn đồng thời các điều kiện: + Doanh thu thuần bình quân ≤ 20 tỷ đồng.
+ Khách hàng có phát sinh nhu cầu tín dụng và tổng giới hạn cấp tín dụng của khách hàng tại mọi thời điểm 1. DN ≤ 10 tỷ đồng siêu KHDN đã + Tại mọi thời điểm, 100% số tiền dư nợ vay/số dư nhỏ phát sinh cam kết (sau quy đổi hệ số) phải có TSBĐ là: (i) số dư doanh thu tiền gửi/Giấy tờ có giá; (ii) Bất động sản có hệ số TSBĐ từ 0,8 trở lên; (iii) ô tô (bao gồm ô tô có hệ số 0,7 và ô tô là Tài sản hình thành từ vốn vay của chính khoản vay mua ô tô). DN Doanh thu thuần bình quân ≤ 200 tỷ đồng (trừ những nhỏ DN siêu nhỏ) 1. DN 200 tỷ đồng < Doanh thu thuần bình quân < 500 tỷ đồng vừa KHDN chưa phát sinh 1.
DNNVV Tổng nguồn vốn < 600 tỷ đồng doanh thu (Nguồn: Công văn số 1350/BIDV-KHDNNVV ngày 29/03/2021 của BIDV) 1 Đối với những KHDN mà BIDV không có thông tin về tình hình tài chính của DN: Bảng 1. Xác định DNNVV đối với những KHDN mà BIDV không có thông tin về tình hình tài chính của DN Phân khúc Điều kiện 1. DNNVV Vốn điều lệ < 150 tỷ đồng 2. Doanh nghiệp lớn Vốn điều lệ ≥ 150 tỷ đồng (Nguồn: Công văn số 1350/BIDV-KHDNNVV ngày 29/03/2021 của BIDV) 1.
Đặc điểm của DNNVV: 1. Thuận lợi: Một là, DNNVV được thành lập dễ dàng. DNNVV được thành lập với quy mô nhỏ, vốn đầu tư ban đầu tương đối ít, cơ sở hạ tầng không đòi hỏi quá cao, mặt bằng và quy mô nhà xưởng không lớn, số lượng lao động ít. Do đó, DNNVV rất linh hoạt, dễ dàng học hỏi và phát triển, hạn chế được những thiệt hại và rủi ro khách quan từ môi trường kinh doanh tác động lên.
Có thể nói, DNNVV hoạt động hiệu quả với chi phí đầu tư thấp. Hai là, DNNVV năng động, có tính linh hoạt cao và dễ thích nghi với sự thay đổi của thị trường. DNNVV với quy mô nhỏ và vừa, bộ máy quản lý tinh gọn, hoạt động hầu hết mọi lĩnh vực, ngành nghề và địa bàn nên dễ dàng điều chỉnh phương án sản xuất kinh doanh, sản phẩm, xu hướng, chiến lược khi thị trường thay đổi. Ngoài ra, đa phần chủ DNNVV là lớp trẻ, năng động, nhạy bén với sự thay đổi, thị hiếu của thị trường cũng như công nghệ kỹ thuật.
Đây có thể xem như là ưu thế nổi trội của DNNVV. Ba là, DNNVV tạo điều kiện duy trì tự do cạnh tranh. 1 DNNVV dễ dàng và sẵn sàng chấp nhận tự do cạnh tranh. Với hoàn cảnh “tự sinh, tự diệt”, DNNVV bắt buộc phải duy trì sự phát triển, nếu không sẽ bị phá sản.
Chính điều đó làm cho nền kinh tế sinh động và thúc đẩy việc sử dụng tối đa các tiềm năng của đất nước. Đây là một ưu thế rất quan trọng của DNNVV. Bốn là, DNNVV có thể phát huy được tiềm lực trong nước. DNNVV dễ dàng chiếm ưu thế trong việc tận dụng nguồn lực sẵn có tại địa phương như: lực lượng lao động, nguyên liệu sản xuất, tài nguyên, … để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh.
DNNVV kinh doanh rộng rãi ở nhiều lĩnh vực, cung cấp các sản phẩm hàng hóa thiết yếu, đơn giản, phù hợp với mức chi tiêu và thị hiếu của người dân địa phương. Từ đó, phát triển kinh tế bền vững, ổn định đời sống xã hội. Năm là, DNNVV tạo sự phát triển cân bằng giữa các vùng, miền trong một quốc gia. DNNVV được thành lập dễ dàng, quy mô và chi phí đầu tư nhỏ nên có thể hiện diện mọi nơi, từ nông thôn đến thành thị, từ đồng bằng đến miền núi.
Họ cung ứng đa dạng sản phẩm, dịch vụ cho người dân địa phương và các vùng lân cận. Hạn chế: Một là, nguồn lực tài chính của DNNVV hạn chế. Nguồn vốn kinh doanh của DNNVV thường rất hạn chế, chủ yếu là vốn tự có của chủ sở hữu hoặc vay mượn từ người thân trong gia đình, bạn bè và thường thiếu tài sản bảo đảm cho khoản vay nên khả năng tiếp cận với các nguồn vốn từ tổ chức tín dụng thấp. Mặt khác, hệ thống sổ sách kế toán, báo cáo tài chính của DNNVV không rõ ràng, minh bạch.
Các DNNVV thường yếu trong việc chuẩn bị hồ sơ phương án vay vốn ngân hàng, các chỉ tiêu tài chính tính toán qua loa và thiếu tính khả thi khiến các ngân hàng không nắm được thực trạng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp dẫn đến khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn từ ngân hàng và các tổ chức tín dụng. Chính vì vậy, đa 1 phần DNNVV luôn ở trong tình trạng thiếu vốn; hoạt động chủ yếu tập trung ở các ngành công nghiệp nhẹ, tiêu dùng hoặc các ngành thương mại, dịch vụ, … hạn chế trong các lĩnh vực đòi hỏi nguồn vốn đầu tư lớn như giao thông vận tải, xây dựng; khả năng mở rộng sản xuất kinh doanh, nâng cấp máy móc thiết bị, đổi mới công nghệ bị hạn chế. Hai là, DNNVV khó khăn trong việc tuyển dụng các nhà quản lý và lao động giỏi, năng lực quản trị điều hành, quản trị tài chính còn nhiều hạn chế. DNNVV với quy mô không lớn, số lượng lao động không nhiều và chưa có sự phân công lao động rõ rệt.
Đa phần DNNVV thành lập và hoạt động dựa vào năng lực và kinh nghiệm quản lý của chủ doanh nghiệp nên bộ máy tổ chức gọn nhẹ, tinh giản, chủ doanh nghiệp vừa trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất vừa trực tiếp quản lý nên mức độ chuyên môn hóa trong quản lý chưa tách bạch, rõ ràng. Chính sách tiền lương, chế độ phúc lợi đối với người lao động ở DNNVV chưa cao nên khó thu hút được lực lượng lao động có trình độ và tay nghề cao. Nhân sự thường xuyên biến động và thay đổi gây khó khăn trong việc quản lý. Ba là, DNNVV hoạt động thiếu vững chắc.
DNNVV hoạt động với quy mô nhỏ, nguồn vốn đầu tư ít, năng lực quản trị điều hành và quản trị tài chính còn nhiều hạn chế, khả năng dự báo rủi ro còn thấp nên thường nhạy cảm với những thay đổi của nền kinh tế như: lạm phát, thay đổi lãi suất, khủng hoảng… Ngoài ra, khả năng sản xuất và chất lượng sản phẩm còn chưa cao, có hiện tượng chạy theo lợi nhuận quá mức, không quan tâm đến uy tín doanh nghiệp, vẫn còn tồn tại tâm lý sẵn sàng thành lập doanh nghiệp mới thay cho doanh nghiệp cũ. Do đó, DNNVV dễ dàng phá sản, giải thể khi gặp những biến cố lớn. Bốn là, năng lực cạnh tranh của DNNVV còn yếu kém. Do hạn chế về quy mô nhỏ, khả năng tài chính yếu, năng lực quản trị điều hành chưa cao nên DNNVV gặp khó khăn trong việc thu hút lao động giỏi, có trình độ chuyên môn cao cũng như điều kiện đầu tư máy móc thiết bị, đổi mới công nghệ để gia tăng giá 1 trị và chất lượng sản phẩm có tính cạnh tranh trên thị trường.
Ngoài ra, DNNVV chưa có uy tín và thương hiệu nên gặp nhiều khó khăn khi cạnh tranh ở thị trường trong và ngoài nước. Vai trò của DNNVV đối với nền kinh tế: DNNVV đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội tại Việt Nam. Mặc dù DNNVV có vốn đầu tư ban đầu không lớn nhưng được hình thành và phát triển rộng khắp ở cả thành thị cũng như nông thôn, ở hầu hết các ngành nghề, lĩnh vực. DNNVV góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, giúp huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển, xóa đói giảm nghèo và là công cụ đắc lực trong việc duy trì và phát triển các ngành nghề truyền thống.
Môi trường kinh doanh mang tính cạnh tranh cao không chỉ giữa các DNNVV mà các doanh nghiệp lớn cũng chịu sức ép nâng cao hiệu quả kinh doanh. Các DNNVV sẵn sàng chấp nhận tự do cạnh tranh và khai thác triệt để mọi cơ hội để phát triển, buộc các doanh nghiệp khác phải tự nâng cao năng lực cạnh tranh của mình. Từ đó tạo nên môi trường kinh doanh năng động và hiệu quả. Ngoài ra, DNNVV có mặt ở mọi điểm trong các chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng dưới dạng nhà sản xuất, nhà cung cấp, nhà phân phối, đại lý; là nhà thầu phụ cho các đơn vị, doanh nghiệp lớn.