CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Lý luận cơ bản về tín dụng ngân hàng 1. Khái niệm tín dụng ngân hàng Tín dụng (Credit) có nguồn gốc từ tiếng La Tinh – Credittum - tức là sự tin tưởng, tín nhiệm hoặc là sự tin tưởng hoặc tín nhiệm đó, hoặc vay mượn sự tin tưởng hoặc tín nhiệm đó để thực hiện các quan hệ vay mượn một lượng giá trị vật chất hoặc tiền tệ trong một thời gian. Bùi Diệu Anh 2013, Khái niệm tín dụng có thể được xem xét ở nhiều góc độ khác nhau.
Trên thị trường tài chính, tín dụng ngân hàng được hiểu là một giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó bên cấp tín dụng (ngân hàng/tổ chức tín dụng) chuyển giao một tài sản cho bên nhận tín dụng (doanh nghiệp, cá nhân hoặc các chủ thể khác) sử dụng theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Nguyễn Minh Kiều, 2009 “Tín dụng ngân hàng là một giao dịch về tài sản giữa bên cho vay và bên đi vay, trong đó các ngân hàng, các tổ chức tín dụng vừa là bên đi vay vừa là bên cho vay. Bên cho vay chuyển giao tạm thời quyền sử dụng tài sản cho bên đi vay trong thời gian thỏa thuận. Bên đi vay có nghĩa vụ hoàn trả lại vô điều kiện đầy đủ vốn và lãi cho bên cho vay khi đến thời hạn thanh toán.Về mặt tài chính, tín dụng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang cho người sử dụng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định”.
Theo đó, tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng và sau một thời gian nhất định sẽ thu hồi một lượng giá trị lớn hơn ban đầu. Nguyễn Văn Tiến, 2013 “Tín dụng ngân hàng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác” Qua khái niệm trên, có thể rút ra các nội dụng sau: Ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng dưới hình thức bằng tiền, tài sản thực 9 và chữ ký. Trong hoạt động tín dụng của NHTM thì rủi ro có tính tất yếu và không thể loại trừ hoàn toàn. Rủi ro tín dụng (RRTD) sẽ phát sinh nếu xuất hiện một trong hai yếu tố: khả năng trả nợ và/hoặc thiện chí trả nợ không được thực hiện đầy đủ.
Thiện chí trả nợ là yếu tố mang tính chất định tính, ngân hàng khó có thể định lượng được. Bên cạnh đó, khi khách hàng sử dụng vốn vay của ngân hàng có rất nhiều biến cố khách quan ngoài tầm kiểm soát của cả ngân hàng và khách hàng, làm cho khả năng trả nợ không được thực hiện đầy đủ, chính vì vậy rủi ro trong quan hệ tín dụng là khá cao, các ngân hàng chỉ có thể kiểm soát, giảm thiểu, hạn chế tín dụng đến mức thấp nhất. Sự hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi là bản chất của tín dụng nói chung và tín dụng ngân hàng nói riêng. Không giống các giao dịch khác, trong tín dụng ngân hàng sự hoàn trả có ý nghĩa rất quan trọng (do bản chất hoạt động ngân hàng là kinh doanh chênh lệch lãi suất).
Để đảm bảo khả năng hoàn trả của khách hàng đối với các khoản tín dụng được cấp, thì trong hoạt động tín dụng cần phải: Xác định thời hạn và kỳ hạn tín dụng phải hợp lý: Ngân hàng phải căn cứ vào thời gian luân chuyển của đối tượng cấp tín dụng và khả năng tài chính/thu nhập của khách hàng. Chính sách lãi suất tín dụng cần phải đảm bảo một cách hài hoà giữa mục tiêu lợi nhuận của ngân hàng và được nền kinh tế chấp nhận. Mức lãi suất ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng phải bù đắp đầy đủ các chi phí ngân hàng bỏ ra cho việc huy động nguồn tiền cho vay, các chi phí thực hiện khoản tín dụng, rủi ro tín dụng… và tạo lợi nhuận cho ngân hàng. Nhưng, tín dụng không chỉ tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng mà phải đảm bảo lợi ích tổng thể của các đối tượng khác, lãi suất ngân hàng áp dụng phải nhỏ hơn tỷ suất lợi nhuận bình quân của nền kinh tế.
Sự hoàn trả trong tín dụng ngân hàng là vô điều kiện: Quá trình cấp tín dụng diễn ra trên cơ sở pháp lý như hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp, khế ước nhận nợ… đều thể hiện trên đó nội dung cam kết hoàn trả vô điều kiện cho ngân hàng khi khoản nợ đến hạn. Đây chính là ràng buộc pháp lý mà khách hàng phải tuân thủ 1 trong quá trình sử dụng vốn tín dụng của ngân hàng. Giá trị được trả thông thường lớn hơn giá trị cho vay: Khi kết thúc vòng tuần hoàn của tín dụng, chủ thể đi vay có nghĩa vụ thanh toán cho chủ thể cho vay toàn bộ vốn tín dụng cho vay và phần giá trị tăng thêm còn gọi là lợi tức tín dụng. Sự chênh lệch này là “cái giá” phải trả cho việc sử dụng lượng giá trị nhàn rỗi trong một thời gian nhất định.
Điều này hoàn toàn là phù hợp vì nếu không cho vay, bên cho vay hoàn toàn có thể sử dụng nguồn vốn của mình để đầu tư sinh lời. Phân loại tín dụng ngân hàng Tùy theo mục tiêu nghiên cứu, mục tiêu quản trị mà tín dụng ngân hàng được chia thành nhiều loại: 1. Căn cứ vào thời hạn cấp tín dụng: Luật các TCTD năm 2010 (Luật số 47/2010/QH12) chia tín dụng ngân hàng làm 3 loại: Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn tối đa 12 tháng (1 năm), được xác định phù hợp với chu kỳ sản xuất kinh doanh và khả năng trả nợ của KH. Tín dụng trung hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ trên 12 tháng đến 60 tháng, thời hạn cho vay được xác định phù hợp với thời hạn thu hồi của vốn đầu tư, khả năng trả nợ của KH và tính chất nguồn vốn vay của TCTD.
Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ 60 tháng trở lên, thời hạn cho vay được xác định tương tự như tín dụng trung hạn nhưng không quá thời hạn hoạt động còn lại theo giấy phép thành lập hoặc quyết định thành lập đối với pháp nhân và không quá 15 năm đối với các dự án đầu tư phục vụ đời sống. Căn cứ vào mục đích sử dụng tín dụng Tín dụng cho sản xuất kinh doanh: Bao gồm các khoản tín dụng tài trợ cho lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Ngân hàng có thể cấp tín dụng cho các doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức kinh tế, hộ kinh doanh cá thể… với mục đích bổ sung vốn lưu động, vay đầu tư cải tạo, xây dựng nhà xưởng, mua máy móc thiết bị… Tín dụng tiêu dùng: Là hình thức cấp tín dụng cho khách hàng cá nhân để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng như mua sắm xe cộ, chi tiêu… 1 Tín dụng đối với các tổ chức tài chính khác: Đây là hình thức cấp tín dụng giữa các ngân hàng với nhau trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng để đáp ứng một phần nhu cầu vốn mang tính chất ngắn hạn như thiếu hụt tạm thời trong thanh toán. Căn cứ vào chủ thể sử dụng vốn tín dụng Tín dụng thương mại: Là quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp được biểu hiện dưới hình thức mua bán chịu hàng hoá.
Đáp ứng nhu cầu vốn cho những doanh nghiệp tạm thời thiếu vốn, đồng thời giúp các doanh nghiệp tiêu thụ được hàng hoá của mình. Tín dụng ngân hàng: Là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, các TCTD khác với các doanh nghiệp và cá nhân. Không chỉ đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn để dự trữ vật tư, hàng hoá, trang trải các chi phí sản xuất và thanh toán các khoản nợ mà còn tham gia cấp vốn cho đầu tư xây dựng cơ bản và đáp ứng một phần nhu cầu tín dụng cá nhân. Tín dụng nhà nước: Là quan hệ tín dụng mà trong đó Nhà nước biểu hiện là người đi vay.
Mục đích thực hiện tín dụng nhà nước của Nhà nước là huy động vốn để bù đắp thiếu hụt ngân sách hoặc mở rộng quy mô đầu tư của Nhà nước 1. Căn cứ vào bảo đảm tín dụng Tín dụng có đảm bảo: Là loại tín dụng dựa trên cơ sở của các biện pháp đảm bảo được pháp luật quy định trong bộ luật dân sự chẳng hạn như thế chấp, cầm cố, bảo lãnh… Tín dụng không có đảm bảo: Là loại tín dụng chỉ dựa trên uy tín của người vay, hiệu quả kinh tế và khả năng trả nợ từ dòng tiền của phương án sản xuất kinh doanh/dự án đầu tư. Đối tượng khách hàng được cấp tín dụng không có đảm bảo thường là những khách hàng có uy tín, giao dịch lâu dài với ngân hàng (Công chức, viên chức trong biên chế nhà nước, nhân viên có hợp đồng lao động dài hạn). Hình thức vay không có đảm bảo phù hợp với những món vay có giá trị không lớn, thời hạn vay thường là ngắn hạn.
Căn cứ vào phương thức cấp tín dụng Theo luật các TCTD Việt Nam (2010), có các hình thức cấp tín dụng sau: 1 Cho vay: Là hình thức cấp tín dụng, trong đó bên cho vay thường là ngân hàng hay các TCTD giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Các loại hình cho vay chủ yếu của NHTM là: Cho vay từng lần, cho vay hạn mức, cho vay thời vụ, cho vay hợp vốn, cho vay thấu chi và cho vay tuần hoàn. Chiết khấu: Là việc NHTM mua có bảo lưu hoặc không có bảo lưu quyền truy đòi các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán. Bảo lãnh ngân hàng: Là hình thức cấp tín dụng, theo đó ngân hàng cam kết thanh toán với bên nhận bảo lãnh về việc sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hay thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho ngân hàng theo thoả thuận.
Bao thanh toán: Là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán theo hợp đồng mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ.