chương 1 đề tài đã trình bày về lý do thực hiện nghiên cứu cũng như đề ra mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu. Ngoài ra đề tài còn sơ lược một số nghiên cứu trước đây liên quan đến vấn đề được nghiên cứu để làm rõ tầm quan trọng của việc thực hiện nghiên cứu. Đến với chương 2, để tài sẽ trình bày cơ sở lý thuyết để có thể giải quyết được mục tiêu đã đặt ra. Chương này sẽ trình bày về lợi nhuận ngân hàng thương mại, lý thuyết về chi phí đại diện, thuyết về cơ cấu sở hữu tối ưu, giả thuyết hội tụ, mối quan hệ giữa sở hữu nước ngoài đến lợi nhuận đối với các ngân hàng thương mại.1 Lợi nhuận của ngân hàng thương mại 2.1 Khái niệm ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại đã phát triển và gắn bó như một phần không thể thiếu của nền kinh tế mỗi quốc gia.
Ngân hàng thương mại ra đời gắn liền với nhu cầu giữ đồ vật quý, giữ tiền và cho vay trong nền kinh tế hàng hóa. Khi nền kinh tế hàng hóa phát triển thành nền kinh tế thị trường thì ngân hàng thương mại cũng dần hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính vô cùng quan trọng với mỗi quốc gia. Ngân hàng là một loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất. Đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng nhất so với bất kỳ tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế (Rose, 2001).
Ngân hàng là một tổ chức tín dụng nằm trong trung gian tài chính bao gồm: ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư, ngân hàng phát triển, ngân hàng hợp tác và ngân hàng chính sách (Lê Thẩm Dương, 2006).2 Lợi nhuận của ngân hàng thương mại 2.1 Khái niệm Lợi nhuận của ngân hàng, thường được đo bằng lợi nhuận trên tài sản (ROA), lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) được biểu thị dưới dạng một hàm của các yếu tố quyết định bên trong và bên ngoài ngân hàng. Các yếu tố quyết định bên trong là các yếu tố chịu ảnh hưởng chủ yếu từ các quyết định quản lý và mục tiêu chính sách của ngân hàng. Các yếu tố quyết định lợi nhuận như vậy là mức độ thanh khoản, chính sách trích lập dự phòng, an toàn vốn, quản lý chi phí và quy mô ngân hàng. Mặt khác, các yếu tố quyết định bên ngoài, liên quan đến ngành và kinh tế vĩ mô, là các biến số phản ánh môi trường kinh tế và pháp lý nơi tổ chức tín dụng hoạt động.
Lợi nhuận của ngân hàng rất nhạy cảm với các yếu tố vĩ mô của nền tế, tăng trưởng kinh tế cao sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp mở rộng việc sản xuất kinh doanh từ đó khuyến khích các ngân hàng cho vay nhiều hơn, cho phép ngân hàng tính lãi cao hơn và góp phần cải thiện chất lượng dịch vụ của ngân hàng. Theo Neely và Wheelock (1997) thu nhập bình quân đầu người tạo ra tác động tích cực và mạnh mẽ đối với thu nhập của ngân hàng. Bên cạnh các yếu tố vĩ mô tác động đến lợi nhuận của ngân hàng thì các yếu tố đặc trưng của ngân hàng là các yếu tố chính quyết định đến lợi nhuận của ngân hàng. Theo Javaid và cộng sự (2011) đã thực hiện nghiên cứu thực nghiệm tác động của các yếu tố đặc trưng của ngân hàng tác động đến lợi nhuận ngân hàng.
Nghiên cứu thực hiện đối với 10 ngân hàng tại Pakistan giai đoạn từ năm 2004 – 2008 đã dùng các biến logarit tự nhiên của tổng tài sản, tỷ lệ tổng vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản, tổng nợ trên tổng tài sản, huy động vốn trên tổng tài sản để xét lợi nhuận của ngân hàng. Trong nghiên cứu của Majnoni và cộng sự (2003) đã đo lường tác động của các yếu tố như tăng trưởng tín dụng, tính thanh khoản, tỷ lệ chi phí hoạt động trên tổng tài sản để xem xét ảnh hưởng đến ROA. Đối với Modebadze và Grigol (2011), nghiên cứu đã sử dụng các yếu tố như tăng trưởng tín dụng, hiệu quả sử dụng chi phí,. để xem xét các ảnh hưởng đến tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản.2 Chỉ tiêu đo lường công thức ROA và ROE Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) đo lường hiệu quả hoạt động của một công ty trong việc sử dụng tài sản để tạo ra lợi nhuận sau thuế, không phân biệt tài sản này được hình thành bởi nguồn vốn vay hay vốn chủ sở hữu.
Là cơ sở quan trọng để những người đi vay hoặc cho vay cân nhắc liệu xem công ty có thể tạo ra mức sinh lời cao hơn chi phí sử dụng nợ không. Giúp chủ sở hữu đánh giá tác động của đòn bẫy tài chính và ra quyết định huy động Ngô Kim Phượng và cộng sự (2016). Lợi nhuận ròng ROA = Tổng tài sản bình quân (Công thức 2.1: Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản) Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu là chỉ tiêu phản ánh một đồng vốn đầu tư của chủ sở hữu vào công ty đem lại cho chủ sở hữu bao nhiêu đồng lợi nhuận sau khi đã trừ thuế thu nhập doanh nghiệp (Ngô Kim Phượng và cộng sự 2016). Lợi nhuận ròng ROE = Vốn chủ sở hữu bình quân (Công thức 2.2: Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu) 2.2 Các lý thuyết Để giải quyết đề tài này một cách tốt nhất, tác giả đã dựa trên một số lý thuyết đã được các nhà nghiên cứu đi trước kiểm nghiệm và đúc kết.1 Lý thuyết về chi phí đại diện Theo Jensen và Meckling (1976) trong một công ty luôn có sự mẫu thuẫn giữa lợi ích của người đại diện và chủ sở hữu hay cổ đông về vấn đề lợi ích của mỗi cá nhân do đó cổ đông sẽ đưa ra các biện pháp nhằm hạn chế sự bất đồng quan điểm này gây tổn hại đến lợi ích của cổ đông.
Vì người đại diện được ủy quyền đưa ra một số quyết định khi cần thiết, người đại diện có thể lợi dụng điều này để gây tổn hại đến 9 quyền lợi của chủ sở hữu, không theo đúng mục đích là tối đa hóa lợi ích và đặt lợi ích của đại diện lên trên hết. Để hạn chế việc các đại diện thực hiện sai mục đích ban đầu, chủ sở hữu đưa ra các lợi ích phù hợp cho đại diện qua đó thiết lập các chi phí được xem như là ưu đãi dành cho người đại diện. Việc này đảm bảo rằng người đại diện sẽ luôn tối đa hóa lợi ích của cổ đông hoặc khi đại diện thực hiện sai mục đích thì cổ đông sẽ được bồi thường hợp lý. Các chi phí mà cổ đông phải bỏ ra để đảm bảo việc thực hiện đúng mục đích của người đại diện được gọi là chi phí đại diện.
Chi phí đại diện là tổng của các loại chi phí sau: (1) chi phí giám sát và ràng buộc tích cực, (2) các chi phí liên kết, (3) chi phí còn lại. Chi phí đại diện luôn phát sinh trong bất kỳ tình huống nào mà trong đó xuất hiện sự hợp tác giữa các bên dù không có bất kỳ hợp đồng ràng buộc về đại diện chính thức nào. Các vấn đề liên quan đến sự tách biệt quyền sở hữu và kiểm soát trong một công ty mà ở đó chủ sở hữu và đại diện là hoàn toàn tách biệt có liên quan mật thiết với các vấn đề chung của ty. Do đó chi phí đại diện được tạo ra bằng các hợp đồng thỏa thuận giữa các chủ sở hữu và quản lý cấp cao nhất của một công ty.
Vì lý do này nên đề tài này hướng đến một nhóm cổ đông thiểu số là cổ đông nước ngoài. Để thực hiện mục đích tối đa hóa lợi ích của các cổ đông nước ngoài, xem xét với phần vốn góp hiện tại thì lợi ích của cổ đông thiểu số có được tối đa không và để tăng quyền kiểm soát đối với nhà đại diện công ty thì cổ đông nước ngoài nên tăng tỷ lệ sở hữu cổ phần đối với công ty và công ty trong đề tài này là các ngân hàng thương mại cổ phần.2 Giả thuyết hội tụ Theo Rassekh (1998) các nhà kinh tế học cho rằng các nền kinh tế có thu nhập thấp sẽ tăng trưởng cao hơn các nền kinh tế có thu nhập cao. Do đó để các nước có nguồn thu nhập thấp tăng trưởng tốt thì không cần mở rộng đầu tư vào chiều ngang như thiết bị, máy móc, chi nhánh mà cần thúc đẩy nguồn lực tài chính của các tổ chức 10 nhằm tăng mức tư bản trên đầu người thúc đẩy quá trình phát triển thông qua tích lũy nhiều hơn là đầu tư. Hiện nay Việt Nam là một nước đang trên đà phát triển việc thúc đẩy sự phát triển của các ngân hàng thương mại là vô cùng quan trọng.
Việc ngân hàng thương mại thu hút các nguồn vốn từ cả trong và ngoài nước để tăng mức tư bản trên đầu người góp phần gia tăng tiết kiệm trong nền kinh tế. Do đó thu hút vốn đầu tư nước ngoài là một việc tất yếu giúp ngân hàng có thêm nguồn vốn ngoại tệ đặc biệt khi nguồn vốn trong nước không đủ mạnh thì nguồn vốn lớn từ nước ngoài sẽ giúp nền kinh tế tăng trưởng tốt hơn. Vì vậy, việc nghiên cứu sự gia tăng tỷ lệ sở hữu các ngân hàng thương mại của các cổ đông nước ngoài đối với lợi nhuận của ngân hàng là vô cùng quan trọng. Cho nên xem xét sự gia tăng của nguồn vốn nước ngoài tác động đến lợi nhuận của ngân hàng thương mại giúp chúng ta nhận biết được mức tư bản trên đầu người thay đổi như thế nào và có góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế không.3 Thuyết cơ cấu sở hữu tối ưu Cơ cấu sở hữu doanh nghiệp có thể được hiểu là cơ cấu phản ánh các mối quan hệ sở hữu trong doanh nghiệp đối với các phần của vốn chủ sở hữu.
Cấu trúc sở hữu là một trong những yếu tố có tác động mạnh mẽ đến các quyết định quản trị của doanh nghiệp cũng như các quyết định đầu tư và quyết định tài chính. Hiện nay, trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp đa số là các doanh nghiệp cổ phần được sở hữu bởi các cổ đông khác nhau bao gồm cả trong và ngoài nước. Theo Nguyễn Thị Minh Huệ và Đặng Tùng Lâm (2017) đối với các quốc gia mà nhà nước muốn nắm quyền chi phối kinh tế thì sở hữu nước ngoài thường có tác động ngược chiều với sở hữu nhà nước.