Một só yêu tó tác động đén nhặn thức thái độ và hành vi của sinh viên tp hcm đói với thức uống có còn

Chuyên khảo phân tích Một só yêu tó tác động đén nhặn thức thái độ và hành vi của sinh viên tp hcm đói với thức uống có, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên

Chuyên ngành

Xã Hội Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Cử Nhân Khoa Học

2007

102
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

PHẦN MỞ ĐẦU

Tóm tắt

I. Tổng quan về tác động của rượu bia đến nhận thức sinh viên TP

Rượu bia đã trở thành một phần không thể thiếu trong văn hóa giao tiếp của sinh viên tại TP.HCM. Việc tiêu thụ rượu bia không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe mà còn tác động đến nhận thức và hành vi của sinh viên. Nghiên cứu cho thấy rằng, việc lạm dụng rượu bia có thể dẫn đến những hệ lụy nghiêm trọng trong học tập và cuộc sống cá nhân.

1.1. Tác động của rượu bia đến nhận thức sinh viên

Nghiên cứu chỉ ra rằng việc tiêu thụ rượu bia có thể làm giảm khả năng tập trung và ghi nhớ của sinh viên. Những sinh viên thường xuyên uống rượu bia có xu hướng gặp khó khăn trong việc tiếp thu kiến thức và tham gia vào các hoạt động học tập.

1.2. Hành vi sinh viên và thói quen uống rượu bia

Thói quen uống rượu bia trong giới sinh viên thường xuất phát từ áp lực xã hội và mong muốn hòa nhập. Nhiều sinh viên cảm thấy cần phải uống để thể hiện bản thân hoặc để tham gia vào các hoạt động xã hội.

II. Vấn đề lạm dụng rượu bia trong sinh viên TP

Lạm dụng rượu bia đang trở thành một vấn đề nghiêm trọng trong cộng đồng sinh viên tại TP.HCM. Theo các nghiên cứu, tỷ lệ sinh viên sử dụng rượu bia vượt mức cho phép ngày càng gia tăng, dẫn đến nhiều hệ lụy về sức khỏe và xã hội.

2.1. Tác hại của rượu bia đối với sức khỏe sinh viên

Việc lạm dụng rượu bia có thể gây ra nhiều vấn đề sức khỏe nghiêm trọng như bệnh gan, rối loạn tâm lý và các bệnh mãn tính khác. Sinh viên cần nhận thức rõ về những tác hại này để có hành vi sử dụng hợp lý.

2.2. Tác động xã hội của việc lạm dụng rượu bia

Lạm dụng rượu bia không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe cá nhân mà còn gây ra các vấn đề xã hội như bạo lực, tai nạn giao thông và vi phạm pháp luật. Những vấn đề này cần được giải quyết kịp thời để bảo vệ cộng đồng.

III. Phương pháp nghiên cứu tác động của rượu bia đến sinh viên

Để hiểu rõ hơn về tác động của rượu bia đến sinh viên, nhiều phương pháp nghiên cứu đã được áp dụng. Các cuộc khảo sát, phỏng vấn và phân tích số liệu từ các tổ chức y tế đã cung cấp cái nhìn sâu sắc về vấn đề này.

3.1. Khảo sát hành vi uống rượu bia của sinh viên

Khảo sát được thực hiện trên một mẫu lớn sinh viên tại TP.HCM, nhằm thu thập thông tin về thói quen uống rượu bia, nhận thức và hành vi liên quan. Kết quả cho thấy có sự khác biệt rõ rệt giữa các nhóm sinh viên.

3.2. Phân tích tác động tâm lý của rượu bia

Nghiên cứu cũng tập trung vào tác động tâm lý của việc tiêu thụ rượu bia. Các yếu tố như áp lực xã hội, cảm giác cô đơn và nhu cầu hòa nhập đã được xem xét để hiểu rõ hơn về hành vi của sinh viên.

IV. Ứng dụng thực tiễn từ nghiên cứu về rượu bia

Kết quả nghiên cứu về tác động của rượu bia đến sinh viên có thể được ứng dụng trong việc xây dựng các chương trình giáo dục và can thiệp. Những chương trình này nhằm nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi của sinh viên.

4.1. Chương trình giáo dục về tác hại của rượu bia

Các chương trình giáo dục cần được triển khai tại các trường đại học để nâng cao nhận thức về tác hại của rượu bia. Việc cung cấp thông tin đầy đủ sẽ giúp sinh viên có quyết định đúng đắn hơn trong việc sử dụng.

4.2. Can thiệp xã hội để giảm thiểu lạm dụng

Cần có các can thiệp xã hội nhằm giảm thiểu tình trạng lạm dụng rượu bia trong sinh viên. Các hoạt động như tổ chức sự kiện không có rượu bia, tạo ra môi trường lành mạnh sẽ giúp sinh viên tránh xa việc lạm dụng.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu về rượu bia

Nghiên cứu về tác động của rượu bia đến sinh viên TP.HCM cần được tiếp tục mở rộng. Việc hiểu rõ hơn về vấn đề này sẽ giúp xây dựng các chính sách hiệu quả nhằm bảo vệ sức khỏe và nâng cao chất lượng cuộc sống cho sinh viên.

5.1. Tương lai của nghiên cứu về rượu bia

Nghiên cứu cần tiếp tục được thực hiện để theo dõi xu hướng tiêu thụ rượu bia trong sinh viên. Các yếu tố mới như ảnh hưởng của mạng xã hội cũng cần được xem xét.

5.2. Đề xuất chính sách cho sinh viên

Cần có các chính sách hỗ trợ sinh viên trong việc phòng chống lạm dụng rượu bia. Các chương trình hỗ trợ tâm lý và giáo dục sẽ là cần thiết để giúp sinh viên có lựa chọn đúng đắn.

25/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ RƯỢU BIA TẠI VIỆT NAM Ngành rượu bia của nước ta có quá trình phát triển khá lâu dài, từ những năm cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Cùng với sự phát triển của đất nước ngành rượu bia nước giải khát Việt Nam cũng được phát triển. Trong thời kì bao cấp, xét về quy mô thì thị trừờng này còn quá nhỏ bé và hạn hẹp, xét về bản chất thì mang nặng tính bao cấp, hàng năm nhà nước giao 16 sản lượng cho các doanh nghiệp rượu bia nước giải khát phải sản xuất dưới dạng chỉ tiêu pháp lệnh. Việc tiêu thụ sản phẩm do nhà nước độc quyền bao tiêu, hệ thống phân phối chỉ các công ty, cửa hàng của nhà nước thực hiện.

Giá cả mua bán các sản phẩm rượu bia nước giải khát do nhà nước quy định thống nhất và rất thấp gọi là giá cung cấp. Nhiều lọai rượu bia nước giải khát ở thời điểm này còn xa lạ với dân chúng, là thứ đồ uống xa xỉ chỉ có ở các thành thị lớn và chỉ những nhà phân phối hay giàu có mới thường xuyên được uống. Trong 10 năm trở lại đây, với chính sách đổi mới, mở cửa thì cơ cấu nền kinh tế đã có sự thay đổi. Theo đó thu nhập bình quân đầu người của các tầng lớp dân cư tăng nhanh và có những bước cải thiện căn bản, nhất là ở khu vực thành thị.

Cùng với các ngành khác, ngành rượu bia nước giải khát Việt Nam chỉ trong một thời gian ngắn đã có những bước phát triển nhanh chóng, nhiều nhà máy được khôi phuc, nâng cao công suất, đồng thời thu hút vốn đầu tư nước ngòai, xây dựng thêm các nhà máy mới thuộc trung ương cũng như địa phương trên cả nước, ngành công nghiệp chế biến thực sự hình thành và chứa đựng trong nó những động lực phát triển mạnh mẽ.  Đối với rượu Ngày 1-6-1897 một hệ thống độc quyền rượu của nhà nước bảo hộ Bắc Kì và Trung Kì được thành lập, công ty tư bản Phông-Ten được giao cho quyền nấu “rượu ty” thay thế cho rượu lậu bị nhà nước cấm, cho đến năm 1931 thì sản xuất được tính ra rượu nguyên chất là 18. 224 lít (tức là gần 50 triệu lít rượu ty) đến năm 1942 số lượng rượu ty được sản xuất tăng gấp đôi: gần 120 triệu lít [12, tr. 1966 chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký pháp lệnh quy định cấm nấu rượu trái phép.

Từ thời điểm đó chính phủ cũng đã xác định việc nấu rượu lậu và nghiện rượu là một tệ nạn xã hội lâu đời do chế độ cũ để lại. Vì vậy phải tuyên truyền giáo dục sâu rộng trong nhân dân để thấy hết mục đích, ý nghĩa của việc cấm nấu rượu trái phép nhằm bảo vệ sức khỏe của nhân dân, xây dựng một lối sống lành mạnh và tiết kiệm lương thực. 17 Pháp lệnh còn quy định nhà nuớc thống nhất quản lý và kinh doanh rượu. Tuy nhiên rượu do dân tự nấu vẫn song song tồn tại trên thị trường.

Sau đó, để cung cấp cho nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu, nhà nước đã đầu tư, củng cố và nâng cấp nhà máy rượu Hà Nội, đồng thời xây dựng nhiều nhà máy ở các địa phương phía Bắc. Từ sau năm 1975, nhà nước quản lý và khôi phục sản xuất nhà máy rượu Bình Tây. Hai nhà máy rượu quốc doanh Hà Nội lớn nhất có năng lực sản xuất khỏang 20 triệu lít/ năm. Thời kỳ những năm 1985-1990, mặc dù sản xuất lương thực trong nước còn rất nhiều khó khăn, nhưng hai nhà máy này cũng sản xuất mỗi năm gần 13 triệu lít.

Trước đây những sản phẩm quốc doanh không cạnh tranh được với cá nhân do dân tự nấu, bởi giá bán cao hơn, do phải chịu thuế tiêu thụ đặc biệt nên sản xuất của các doanh nghiệp trong những năm qua gặp rất nhiều khó khăn. Chỉ từ những năm 1997 trở lại đây sản phẩm mới bắt đầu tăng nhanh nhờ vào chính sách điều chỉnh mức thuế tiêu thụ đặc biệt đối với mặt hàng này, đồng thời cũng tăng cường kiểm sóat rượu nhập khẩu. Năm 2005 cả nước có khỏang 72 cơ sở sản xuất rượu (không kể các cơ sở do dân tự nấu) có công suất thiết kế 103 triệu lít. Cả nước cũng chỉ có khỏang 20 nhà máy rượu có hệ thống xử lý cồn tốt, còn lại các nhà máy không có hệ thống đảm bảo tiêu chuẩn.

Sản lượng rượu theo thống kê của Hiệp hội rượu bia Việt Nam là gần 600 triệu lít/năm. 60-70% trong đó là rượu sản xuất thủ công. Việc kiểm sóat chất lượng sản phẩm các cơ sở này gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người tiêu dùng do uống phải rượu còn nhiều độc tố, kém chất lượng, Việc sản xuất rượu lậu làm lãng phí lương thực và gây thất thu lớn cho ngân sách nhà nước. Nếu tính bình quân tiền thuế khỏang 3000 đồng lít, thì với 250 triệu lít rượu nấu trái phép , hàng năm nhà nước thất thu 750 tỷ đồng.

Một kết quả điều tra sơ bộ cuối năm 2006 cho thấy chỉ tính riêng Tiền Giang đã có khỏang 1. 650 lò nấu rượu đế thủ công đang họat động. Mỗi ngày cung ứng cho thị trường 50. 000 lít rượu nhưng phần lớn không giấy phép họat động, không được đăng ký chất lượng.

Khi các ngành chức năng kiểm tra 18 ngẫu nhiên 310 mẫu rượu tại các lò thì có đến 303 mẫu không đạt chất lượng , hàm lượng độc tố dẫn đến chết người. Hiện nay, về lọai hình sở hữu gồm: quốc doanh trung ương và địa phương, liên doanh và 100%vốn nước ngòai, tư nhân và cổ phần.  Đối với bia Năm 1890 nhà máy bia đầu tiên ở Việt Nam được xây dựng tại Hà Nội chỉ với công suất khỏang 20 triệu lít/năm. Sau đó nhà máy thứ hai ra đời được xây dựng tại Sài Gòn với công suất từ 30-50 triệu lít/năm.

Và cho đến ngày nay, tính đến hết năm 2004, tòan ngành có 329 cơ sở sản suất bia với công suất thiết kế 1. 737 triệu lít, năng lực sản xuất bia tập trung chủ yếu tại những tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương như: Tp Hồ Chí Minh chiếm: 23. 2% tổng năng lực sản xuất bia tòan quốc, thành phố Hà Nội: 13. 44%, Tp Hải Phòng:7.

47%, tỉnh Hà Tây: 6. Trong số các nhà máy đang họat động có 19 nhà máy đạt sản lượng sản xuất thực tế trên 20 triệu lít, 15 nhà máy bia có công suất lớn hơn 15 triệu lít, 268 cơ sở có năng lực sản xuất dưới 1 triệu lít/năm. Bộ Công nghiệp cho rằng sản lượng bia năm 2005 ở Việt Nam là 1. Song tính tóan của hiệp hội là khỏang 1.

Tốc độ đầu tư vào sản xuất bia đã tăng rất cao từ những năm đầu thập niên 1990 trở lại đây, với sự tham gia đầy đủ các thành phần kinh tế như quốc doanh, liên doanh, Trung ương, địa phương, 100% vốn nước ngòai, tư nhân, cổ phần. Mỗi năm Việt Nam sản xuất 1. Trung bình con số này tăng từ 8- 10%, sản lượng dự báo đến năm 2010 là 1,5 tỷ lít. Tốc độ tăng trưởng về sản lượng bia trên thị trường bia Việt Nam từ những năm 1950 đến nay cụ thể như sau:  Năm 1950-1975: Thời kỳ này rượu bia chỉ có duy nhất nhà máy bia Hà Nội với sản lượng bình quân khỏang 4 triệu lít/năm.

Ơ Miền Nam từ những năm 1960 đến 1970 sản lượng bia tăng nhanh và đạt mức cao nhất 19 khỏang 120 triệu lít vào năm 1970. Tuy nhiên lúc đó tăng trưởng này chủ yếu nhằm phục vụ cho quân đội Mỹ ở miền Nam.  Năm 1975- 1985: Sản lượng bia chỉ còn bình quân trên 50 triệu lít/năm. Đây là giai đọan sản xuất và tiêu thụ theo chỉ tiêu pháp lệnh của nhà nước, mang nặng tính bao cấp.

 Từ năm 1985 đến nay: Sản lượng bia của nước ta có tốc độ tăng trưởng khá nhanh như sau:  1987-1990:6%  1991-1992: 26. 71]  1996-2006: 15% (nguồn: kết quả nghiên cứu đánh giá tình trạng lạm dụng rượu bia ở Việt Nam- chương trình hợp tác y tế Việt Nam- Thụy Điển. : cơ quan thực hiện: viện chiến lược và chính sách y tế) Về trình độ công nghệ thiết bị: những nhà máy bia có công suất trên 100 triệu lít tại Việt Nam đều có thiết bị hiện đại, tiên tiến, được nhập khẩu từ các nước có nền công nghiệp phát triển mạnh như: Đức, Mỹ, Y…các nhà máy bia có công suất trên 20 triệu lít cho đến nay cũng đã được đầu tư chiều sâu, đổi mới thiết bị, tiếp thu trình độ công nghệ tiên tiến vào sản xuất. Các cơ sở còn lại với công suất thấp vẫn đang trong tình trạng thiết bị, công nghệ lạc hậu, yếu kém, không đạt yêu cầu vệ sinh an tòan thực phẩm Có 50 dự án FDI đang họat động với tổng số vốn đầu tư đăng ký là 1.

324,7 triệu USD, trong đó có 25 dự án họat động theo hình thức 100% vốn nước ngòai với số vốn đầu tư đăng ký 622 triệu USD, 24 dự án liên doanh với số vốn đầu tư đăng ký 702,69 triệu USD. Các nhà máy bia được phân bổ 49 tỉnh thành trong 64 tỉnh thành của cả nước, tập trung chủ yếu tại khu vực Đông Nam Bộ. Đồng bằng sông Cửu Long, trung du miền núi phía Bắc, năng lực sản xuất ở mức thấp. So với các nước trong khu vực thì tốc độ tăng trưởng rượu bia tại Việt Nam khá cao.2 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG RƯỢU BIA TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY Theo báo cáo khoa học mang tên “Đánh giá tình hình lạm dụng rượu bia tại Việt Nam” (2005-2006) do Viện chiến lược và chính sách y tế (Bộ y tế) thực hiện (chương trình hợp tác y tế VN- Thụy Điển).

Cuộc nghiên cứu này được tiến hành trên bảy tỉnh thành (không nghiên cứu ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh vì theo tiến sỹ Đàm Viết Cương Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là hai địa phương đặc thù, không nghiên cứu cũng biết là sử dụng nhiều rượu bia) và thấy có hiện tượng lạm dụng rượu bia ở nhiều nhóm đối tượng khác nhau. Hiện nay nước ta có trên 10 triệu đàn ông trong độ tuổi uống rượu, bia (25-54 tuổi) trong tổng số dân số Việt Nam là trên 83 triệu người (niên giám thống kê 2005). Đây là lực lượng lao động chính làm ra của cải vật chất cho xã hội. Có đến 1/3 dân số Việt Nam sử dụng bia rượu.

Tỷ lệ lạm dụng rượu là 1/5 (đối với bia, tỷ lệ này thấp hơn) Với số lượng bia được sản xuất mỗi năm(như đã trình bày ở phần trên) bình quân mỗi người dân tiêu thụ gần 15.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ