Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu: trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu, các nghiên cứu liên quan, cuối cùng đưa ra ý nghĩa và bố cục của bài khóa luận Chương 2: Cơ sở lý luận về nhập khẩu và Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện khu vực (RCEP): trình bày cơ sở lý luận về vấn đề nghiên cứu, các nền tảng lý thuyết về nhập khẩu và hiệp định RCEP. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu: trình bày rõ hơn về các phương pháp nghiên cứu, phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu, phương pháp xây dựng mô hình sử dụng trong bài nghiên cứu để lựa chọn mô hình ước lượng phù hợp với mô hình nghiên cứu nhằm đưa ra kết quả nghiên cứu đáng tin cậy nhất. Chương 4: Tác động của Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện khu vực (RCEP) tới nhập khẩu của công ty TNHH Spica Elastic Việt Nam: giới thiệu về công ty TNHH Spica Elastic Việt Nam và trình bày thực trạng hoạt động kinh doanh quốc tế của công ty, đồng thời cũng đưa ra kết quả phân tích định tính và định lượng của bài nghiên cứu. Chương 5: Định hướng phát triển và đề xuất giải pháp thúc đẩy tác động tích cực và giảm thiểu tác động tiêu cực của Hiệp định RCEP tới nhập khẩu của công ty TNHH Spica Elastic Việt Nam: trên cơ sở kết quả và đánh giá từ chương 4, bài luận 7 đưa ra định hướng phát triển và đề xuất giải pháp, kiến nghị nhằm phát triển hoạt động kinh doanh quốc tế của công ty trong bối cảnh thực thi hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện khu vực (RCEP).
8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC KINH TẾ TOÀN DIỆN KHU VỰC VÀ NHẬP KHẨU 2. Lý luận chung về nhập khẩu 2. Khái niệm về nhập khẩu Hoạt động nhập khẩu là một bộ phận quan trọng của thương mại quốc tế, giúp cho nền kinh tế của các quốc gia được bổ sung những sản phẩm trong nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất không hiệu quả, từ đó mang lại lợi ích cho các bên tham gia. Bản chất của nhập khẩu là hoạt động dùng ngoại tệ để trao đổi, mua bán hàng hóa dịch vụ từ nước ngoài về phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước hoặc tái xuất khẩu nhằm thu lợi nhuận.
Theo Điều 5 Luật Thương mại năm 2005: “Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.” Như vậy, hoạt động nhập khẩu hàng hóa được hiểu là việc mua hàng hóa và dịch vụ từ một quốc gia khác trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương thức thanh toán. Mục đích của hoạt động nhập khẩu là tận dụng lợi thế so sánh của mỗi quốc gia, khai thác điểm mạnh của từng quốc gia trong phân công lao động và phân bổ tài nguyên. Hoạt động nhập khẩu diễn ra phức tạp hơn so với các hoạt động mua hàng trong nước vì phải giao dịch với nhiều đối tượng khác nhau nên phải tuân thủ theo các tập quán quốc tế và từng quốc gia khác biệt. Kinh doanh nhập khẩu là một trong những hoạt động kinh doanh quốc tế phổ biến của các doanh nghiệp.
Hoạt động này được thực hiện với nhiều khâu nghiệp vụ từ lựa chọn hàng hóa nhập khẩu, lựa chọn nhà cung cấp, đối tác, đàm phán, thực hiện giao nhận hàng và thủ tục vận chuyển, xuất nhập khẩu liên quan. Mỗi bước đều đòi hỏi các doanh nghiệp cần nghiên cứu đầy đủ, kỹ lưỡng, tranh thủ những lợi thế nhằm mang lại lợi ích cao nhất cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Vai trò nhập khẩu 2. Đối với nền kinh tế Thứ nhất, hoạt động nhập khẩu góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa, đồng thời cũng thúc đẩy nhanh quá trình xây dựng hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật bởi nhập khẩu đòi hỏi sự đồng bộ về kỹ thuật, thúc đẩy sự đổi mới trong hệ thống kỹ thuật và đội ngũ cán bộ quản lý.
Thứ hai, nhập khẩu tạo điều kiện thuận lợi cho việc cung ứng nguyên vật liệu đầu vào phục vụ cho quá trình sản xuất hàng hóa trong nước, từ đó nâng cao khả năng sản xuất trong nước và giúp quốc gia khai thác hiệu quả lợi thế so sánh của mình. Thứ ba, hoạt động nhập khẩu giúp tiết kiệm chi phí và thời gian tự sản xuất sản phẩm không có lợi thế của quốc gia đồng thời tăng thu cho quốc gia thông qua thu thuế nhập khẩu. Tạo ra sự đồng đều về trình độ phát triển kinh tế xã hội và thúc đẩy sự phát triển của nền sản xuất. Thứ tư, bên cạnh khả năng cung ứng đầu vào cho sản xuất trong nước, nhập khẩu có ý nghĩa to lớn trong việc bù đắp, bổ sung kịp thời những thiếu hụt về cầu do sản xuất trong nước không đáp ứng được gây mất cân đối của nền kinh tế.
Thông qua nhập khẩu, các mặt hàng tiêu dùng cũng trở nên phong phú về mặt hàng, chủng loại, mẫu mã, chất lượng… cho thị trường nội địa, thúc đẩy tiêu dùng và tạo ra những nhu cầu mới cho xã hội. Từ đó góp phần tạo ra sự cân đối giữa cung cầu trong nước, đảm bảo cho sự phát triển cân đối và ổn định. Thứ năm, thông qua hoạt động nhập khẩu, các quốc gia cũng có cơ sở mở rộng quan hệ giao thương trong khu vực và trên thế giới. Góp phần xóa bỏ tình trạng độc quyền về hàng hóa.
Thúc đẩy xây dựng những chính sách ngoại thương phù hợp để đáp ứng nhu cầu sản xuất mà không bị phụ thuộc quá nhiều vào hàng nhập khẩu. Đối với doanh nghiệp Thứ nhất, thông qua hoạt động nhập khẩu, doanh nghiệp có thể nhập các nguyên vật liệu, linh kiện, máy móc phục vụ sản xuất trong nước với chất lượng cao hơn, giúp đảm bảo sản xuất không bị gián đoạn. 10 Thứ hai, việc doanh nghiệp nhập khẩu các sản phẩm từ các quốc gia có chi phí sản xuất thấp hơn giúp doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí sản xuất không hiệu quả, từ đó giúp tăng lợi nhuận, giảm giá thành sản phẩm và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Nhập khẩu cũng cho phép các doanh nghiệp sản xuất và cung cấp các sản phẩm đa dạng hơn, đáp ứng nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng, góp phần giúp doanh nghiệp mở rộng thị phần và doanh thu.
Thứ ba, nhập khẩu giúp các doanh nghiệp cải thiện năng lực sản xuất, có cơ hội nhập khẩu các máy móc, thiết bị công nghệ tiên tiến của thị trường quốc tế. Thúc đẩy doanh nghiệp sáng tạo và phát triển những sản phẩm mới, thực hiện chuyển giao công nghệ và cải tiến sản phẩm của mình. Thứ tư, thông qua nhập khẩu, các doanh nghiệp có cơ hội hợp tác với các doanh nghiệp quốc tế và các quốc gia đối tác bên ngoài. Từ đó có thể mở rộng mạng lưới kinh doanh và tìm kiếm thêm các cơ hội hợp tác đầu tư cho doanh nghiệp.
Các hình thức nhập khẩu Nhập khẩu trực tiếp Hay còn gọi là nhập khẩu tự doanh, là hình thức nhập khẩu độc lập của một doanh nghiệp trên cơ sở nghiên cứu kỹ thị trường, tính toán đầy đủ các chi phí và đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Một doanh nghiệp được gọi là nhập khẩu trực tiếp khi trực tiếp nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ mà không qua bất kỳ tổ chức trung gian nào khác. Khi thực hiện nhập khẩu trực tiếp, doanh nghiệp phải tự chịu mọi trách nhiệm pháp lý về hoạt động của mình. Lợi nhuận thu được thông qua việc nhập khẩu rồi sản xuất, tiêu dùng có thể nhiều hơn so với các hình thức khác.
Khi việc nhập khẩu được thực hiện đúng quy cách, chất lượng… giúp giảm thiểu chi phí trung gian, nâng cao khả năng nghiệp vụ và uy tín của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng phải chịu mọi nghĩa vụ thuế liên quan cũng như đòi hỏi khả năng nghiệp vụ cao. Nhập khẩu gián tiếp Hay còn gọi là nhập khẩu ủy thác, là hoạt động mà doanh nghiệp nhập khẩu đóng vai trò trung gian nhập khẩu, làm thay cho đơn vị cần nhập khẩu những thủ tục cần thiết 11 để có thể nhập hàng và hưởng phần trăm chi phí ủy thác theo giá trị hàng nhập khẩu. Quan hệ giữa doanh nghiệp ủy thác và doanh nghiệp nhận ủy thác được quy định đầy đủ trong hợp đồng ủy thác.
Trong hoạt động nhập khẩu này, doanh nghiệp Xuất nhập khẩu (doanh nghiệp nhận ủy thác) không cần bỏ vốn, không phải xin hạn ngạch nếu có, không cần nghiên cứu thị trường tiêu thụ vì không phải tiêu thụ hàng nhập mà chỉ đứng ra đại diện cho bên ủy thác để giao dịch với bạn hàng nước ngoài, ký hợp đồng và làm thủ tục nhập hàng liên quan. Bên ủy thác chịu trách nhiệm nghiên cứu thị trường, lựa chọn mặt hàng, đối tượng giao dịch và chi trả mọi chi phí liên quan. Tạm nhập tái xuất Là hình thức hàng hóa được nhập khẩu tạm thời vào Việt Nam nhưng sau đó chính hàng hóa đó được xuất khẩu trực tiếp sang một nước khác. Hình thức nhập khẩu hàng hóa này không phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước mà thực hiện với mục đích thu lợi nhuận.
Hình thức này bao gồm ít nhất 3 nước tham gia: nước xuất khẩu, nước nhập khẩu và nước tái xuất. Doanh nghiệp tái xuất cần thực hiện song song hai hợp đồng bao gồm một hợp đồng xuất khẩu và một hợp đồng nhập khẩu. Hàng hóa nhập khẩu có thể chuyển thẳng sang nước thứ ba nhưng trả tiền luôn do nước tái xuất thu từ người nhập khẩu và trả cho nước nhập khẩu. Nhập khẩu liên doanh Là hoạt động nhập khẩu trên cơ sở liên kết kinh tế một cách tự nguyện giữa các doanh nghiệp.
Trong đó, cần có ít nhất một doanh nghiệp nhập khẩu trực tiếp để phối hợp kỹ năng cùng giao dịch và đề ra biện pháp nhập khẩu, thúc đẩy hoạt động nhập khẩu theo hướng có lợi nhất cho hai bên theo nguyên tắc cùng chịu lãi lỗ. Với hình thức này, doanh nghiệp ít chịu rủi ro do mỗi doanh nghiệp nhập khẩu chỉ phải góp một phần vốn nhất định, quyền hạn và trách nhiệm của mỗi bên tăng lên theo tỷ lệ góp vốn. Doanh nghiệp đứng ra nhập hàng sẽ được tính kim ngạch nhập khẩu và khi tiêu thụ thì chỉ tính doanh số trên số hàng tính theo tỷ lệ góp vốn và chỉ chịu thuế 12 doanh thu trên số hàng đó.