Chương 1: Giới thiệu luận án - Chương 2: Tổng quan lý thuyết và thực nghiệm tác động của quản trị thu nhập đến lợi suất chứng khoán - Chương 3: Nghiên cứu tác động của quản trị thu nhập đến lợi suất chứng khoán tại các công ty niêm yết phi tài chính tại Việt Nam theo hướng dị thường - Chương 4: Quản trị thu nhập, nhân tố rủi ro trong mô hình định giá tài sản tại Việt Nam - Chương 5: Các hàm ý và kiến nghị 7 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ THỰC NGHIỆM VỀ TÁC ĐỘNG CỦA QUẢN TRỊ THU NHẬP ĐẾN LỢI SUẤT CHỨNG KHOÁN Chương 2 trình bày tổng quan lý thuyết và thực nghiệm về tác động của quản trị thu nhập đến lợi suất chứng khoán. Nội dung chính của chương 2 đưa ra các khái niệm về quản trị thu nhập, lợi suất chứng khoán, đồng thời trình bày các lý thuyết gốc liên quan đến vấn đề nghiên cứu. Chương 2 cũng tập trung làm nổi bật tổng quan thực nghiệm về vấn đề nghiên cứu chính của luận án để từ đó nêu bật khoảng trống nghiên cứu và làm cơ sở lý thuyết cho các chương tiếp theo. Tổng quan về quản trị thu nhập 2.
Vai trò của dồn tích và dòng tiền trong đo lường hiệu quả hoạt động của công ty Lợi nhuận sau thuế/thu nhập sau thuế là thước đo hiệu quả hoạt động của công ty. Tuy nhiên chỉ tiêu này lại được lập dựa trên cơ sở của kế toán dồn tích. Cơ sở kế toán dồn tích có nghĩa là các giao dịch kế toán được ghi nhận tại thời điểm phát sinh chứ không phải tại thời điểm chi hoặc thu tiền. Cơ sở dồn tích giúp khắc phục nhược điểm của việc ghi nhận giao dịch dựa trên thời điểm thu/chi tiền đó là sự không phù hợp giữa thời điểm phát sinh giao dịch và thời điểm thực thu và chi tiền dẫn đến nếu dùng dòng tiền thực phát sinh trong kỳ làm thước đo hiệu quả thì không chính xác bằng thu nhập do dòng tiền thực phát sinh trong kỳ kế toán bỏ qua các thông tin hàm ý tạo ra dòng tiền trong tương lai.
Trong khi dòng tiền tương lai (chứ không phải là dòng tiền thực phát sinh trong kỳ kế toán) quyết định đến giá trị công ty. Do đó thu nhập bao gồm hai thành phần dòng tiền thực phát sinh trong kỳ và dồn tích được coi là thước đo hợp lý hơn đối với hiệu quả công ty. Tuy nhiên dồn tích lại dễ bị tác động hay điều chỉnh bởi chú ý của ban giám đốc hơn dòng tiền. Nếu nhà quản lý cố tình thao túng thông tin báo cáo tài chính để thổi phồng lợi nhuận thông qua việc tác động vào thành phần dồn tích thì lúc này lợi nhuận/thu nhập sẽ không còn là thước đo đáng tin cậy hiệu quả hoạt động của công ty nữa.
Thay vào đó, dòng tiền có thể được coi trọng hơn trong việc đánh giá hiệu quả của công ty. Các khái niệm cơ bản về quản trị thu nhập Theo lý thuyết có rất nhiều khái niệm được đưa ra về quản trị thu nhập và thậm chí hiện nay vẫn chưa có sự đồng nhất về định nghĩa quản trị thu nhập. Healy (1985) và Schipper (1989) nhìn quản trị thu nhập dưới góc độ vừa tích cực vừa tiêu cực khi 8 ông cho rằng “quản trị thu nhập là hành vi can thiệp có chủ đích vào quá trình lập báo cáo tài chính nhằm thu được lợi ích riêng cho cổ đông hoặc nhà quản lý”. Dưới góc độ tích cực, Schipper (1989) cho rằng thu nhập được coi là một trong các tín hiệu được sử dụng để đưa ra các quyết định nhất định và quản trị thu nhập được sử dụng để truyền tín hiệu của ban giám đốc đến nhà đầu tư về kỳ vọng của họ đối với dòng tiền trong tương lai của doanh nghiệp.
Hay nói cách khác, quản trị thu nhập đơn thuần được coi là kênh truyền dẫn thông tin (informative earning management). Do đó, cổ đông được hưởng lợi vì quản trị thu nhập được sử dụng để truyền tín hiệu về thông tin riêng từ ban giám đốc đến cổ đông hoặc làm giảm chi phí chính trị (Watts và Zimmerman, 1986). Dưới góc nhìn tiêu cực, quản trị thu nhập được coi là bất cứ hành vi nhào nặn (manipulation) nào có thể ảnh hưởng đến báo cáo tài chính thông qua việc điều chỉnh con số về thu nhập hoặc các số liệu kế toán khác. Quản trị thu nhập có thể được coi là hợp pháp (được chuẩn mực kế toán cho phép) hoặc bất hợp pháp (accounting frauds-gian lận kế toán).
Tuy nhiên góc nhìn tích cực trên của Schipper (1989) cũng gây nhiều tranh cãi khi các nhà nghiên cứu cho rằng hành vi quản trị thu nhập chỉ thực sự mang lại lợi ích cho cổ đông khi các điều chỉnh có mục đích của ban giám đốc góp phần giúp báo cáo tài chính phản ánh một cách trung thực và chính xác hơn sự khác biệt giữa tình hình tài chính (được phản ánh thông qua số liệu kế toán) và hiệu quả hoạt động của công ty. Do đó Healy và Wahlen (1998) đã đưa ra một định nghĩa khác nghiêng về góc nhìn tiêu cực “Quản trị thu nhập được định nghĩa là hành vi điều chỉnh báo cáo tài chính của nhà quản lý dẫn đến việc phản ánh thiếu chính xác kết quả hoạt động kinh doanh của công ty và sự hiểu lầm của các đối tác liên quan (như cổ đông, chủ nợ.) về hiệu quả hoạt động của công ty hoặc gây ảnh hưởng đến kết quả các hợp đồng mà các kết quả này phụ thuộc vào số liệu kế toán”. Theo cách nhìn này, rõ ràng quản trị thu nhập là một hành vi tiêu cực và hành động điều chỉnh báo cáo tài chính nhằm cung cấp thông tin riêng cho nhà đầu tư (theo quan điểm của Schipper) không được coi là hành vi quản trị thu nhập nữa. Định nghĩa này được bắt nguồn từ việc coi quản trị thu nhập là một hành vi cơ hội (opportunistic earning management) khi nhà quản lý vì lợi ích của mình chủ ý làm cho nhà đầu tư hiểu sai lệch về hiệu quả hoạt động kinh doanh thực sự của doanh nghiệp.
Hàng loạt các công trình nghiên cứu thực nghiệm đã ủng hộ cho định nghĩa này như công trình của Burns và Kedia (2006); Cohen và cộng sự (2004) và Cheng và cộng sự (2010) đã tìm thấy mối quan hệ tương quan dương giữa việc sử dụng dồn tích có thể điểu chỉnh được (discretionary accruals)- một thước đo của quản trị thu nhập- với tỷ lệ lương thưởng của ban giám đốc. 9 Dechow và Skinner (2000) phê phán cả hai định nghĩa trên vì các định nghĩa trên chưa phân biệt được giữa quản trị thu nhập và gian lận (fraud) báo cáo tài chính. Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 240 (VSA 240) “gian lận là những hành vi cố ý làm sai lệch thông tin kinh tế, tài chính do một hay nhiều người trong hội đồng quản trị, ban giám đốc, các nhân viên hoặc bên thứ ba thực hiện, làm ảnh hưởng đến báo cáo tài chính”. Theo Hiệp hội các nhà điều tra gian lận (The National Association of Certified Fraud Examiners), gian lận được định nghĩa là “hành vì cố ý làm sai lệch hoặc bỏ sót các thông tin, số liệu kế toán trọng yếu dẫn đến sự hiểu nhầm, sai lệch của người sử dụng thông tin báo cáo tài chính”.
Do đó, Dechow và Skinner (2000) đã phân biệt giữa quản trị thu nhập và gian lận báo cáo tài chính như sau: Bảng 2.1: Phân biệt giữa quản trị thu nhập và gian lận trong báo cáo tài chính Chuẩn mực kế toán cho phép (theo GAAP-chuẩn mực kế toán Mỹ) Kế toán thận trọng - Ghi nhận dự phòng và dữ trữ quá mức (conservative accounting) - Định giá quá cao phần chi phí nghiên cứu và phát triển dang dở trong các thương vụ mua lại và sát nhập doanh nghiệp - Ghi nhận quá cao các chi phí tái cấu trúc và giá trị các tài sản bị loại bỏ Kế toán trung lập - Thu nhập là kết quả của quá trình hoạt động bình (neutral accounting) thường. Kế toán sáng tạo - Ghi nhận thấp dự phòng nợ khó đòi (creative accounting) - Ghi giảm quá mức dự phòng hoặc dự trữ Vi phạm chuẩn mực kế toán Gian lận báo cáo tài chính - Ghi nhận doanh thu trước khi doanh thu được (Financial fraud) coi là đáng tin cậy - Ghi nhận doanh thu giả Nguồn: Dechow, P. Mặc dù còn một số bất đồng về khái niệm quản trị thu nhập, đa phần các nhà khoa học đồng ý với định nghĩa của Healy and Wahlen (1998) và cho rằng quản trị thu nhập (dù là hợp pháp hay bất hợp pháp) là hành vi điều chỉnh báo cáo tài chính có chủ ý (ví dụ thay đổi thời gian ghi nhận chi phí, doanh thu, chậm ghi nhận lỗ, điều chỉnh các ước tính kế toán như vòng đời tài sản) nhằm che dấu hiệu quả hoạt động thực sự của công ty. Trong khuổn khổ của luận án này, tác giả cũng dùng định nghĩa của Healy và Wahlen (1998) khi nói về quản trị thu nhập.
Nguyên nhân của quản trị thu nhập 2. Nguyên nhân từ thị trường chứng khoán Mối quan hệ giữa lợi nhuận báo cáo và lợi suất cổ phiếu là nguyên nhân dẫn đến việc ban giám đốc có thể có các hành động quản trị thu nhập. Các nghiên cứu trước đây về loại nguyên nhân này tập trung vào 02 nhóm: (1) nguyên nhân đáp ứng kỳ vọng thị trường của nhà quản lý; (2) nguyên nhân làm đẹp lợi nhuận trước các đợt phát hành chứng khoán ra công chúng hay mua lại cổ phiếu quỹ. - Nguyên nhân đáp ứng kỳ vọng thị trường của nhà quản lý: Nhà đầu tư thường đầu tư dựa vào dự báo của các chuyên viên phân tích trên thị trường chứng khoán.
Do đó việc làm đẹp báo cáo tài chính để đáp ứng kỳ vọng /dự báo của các chuyên viên phân tích được coi là sẽ giúp cổ phiếu của công ty thu được lợi suất cao hơn (Bartov và Mohanram, 2004) trong khi các công ty không đáp ứng được dự báo của chuyên viên phân tích hay có kết quả kinh doanh thấp hơn kỳ vọng của thị trường được coi là một tín hiệu tiêu cực sẽ dẫn đến mức lợi suất cổ phiếu thấp. Vì vậy, việc điều chỉnh thu nhập để đáp ứng được dự báo của chuyên viên phân tích hay kỳ vọng thị trường nhằm thu hút thêm nhiều nhà đầu tư được coi là một nguyên nhân dẫn đến các hành vi quản trị thu nhập (Degeorge và cộng sự, 1999; Graham và cộng sự, 2005).