Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu. Trong chương này, tác giả sẽ giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu. Các ý tưởng khơi gợi lên vấn đề nghiên cứu này, mục tiêu nghiên cứu này, cũng như nghiên cứu này sẽ đóng góp gì cho xã hội. Chương 2: Cơ sở lý thuyết.
Cơ sở lý thuyết liên quan đến nghiên cứu. Lược khảo các khái niệm, các lý thuyết nền tảng cũng như khái quát các nghiên cứu trước về vấn đề này. Cấu trúc, cách thức đo lường cũng như tác động của quan hệ xã hội cũng sẽ được trình bày cụ thể trong chương này. Chương 3: Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu.
Chương này sẽ trình bày về cách thức thu thập dữ liệu, phương pháp thực hiện nghiên cứu, cách xây dựng mô hình và các giả thuyết kỳ vọng sẽ đạt được. Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Trình bày kết quả nghiên cứu và so sánh kết quả này với các giả thuyết đã được đưa ra. Xem xét, đánh giá kết quả tác động của quan hệ xã hội cũng như các yếu tố then chốt nào sẽ tác động đến kết quả IPO của các doanh nghiệp Nhà nước cổ phần tại Việt Nam.
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị. Phần sau cùng này tác giả sẽ đưa ra các kết luận từ kết quả thực nghiệm ở chương 4 và những khuyến nghị dành cho các nhà làm chính sách, cũng như các doanh nghiệp Nhà nước chuẩn bị IPO trong các giai đoạn sắp tới. Trang 5 Chương 2: Cơ sở lý thuyết CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Khái niệm về mối quan hệ Theo triết học duy vật biện chứng, mối liên hệ là phạm trù triết học dùng để chỉ các mối ràng buộc tương hỗ, quy định, ảnh hưởng lẫn nhau giữa các yếu tố, bộ phận trong một đối tượng hoặc giữa các đối tượng với nhau. Có thể dùng khái niệm “quan hệ” thay thế “liên hệ” và khái niệm này sẽ rộng hơn so với “liên hệ” (Nguyễn Văn Tài và ctg.
Từ điển Oxford ấn bản lần 4 (2008) định nghĩa, mối quan hệ (relationship) là cách thức mà hai hay nhiều người, hoặc những thứ được kết nối; hoặc tình trạng bị kết nối”. Thuật ngữ “Mối quan hệ” là một thuật ngữ phức tạp, có thể có nhiều hàm ý khác nhau tùy thuộc vào ngữ cảnh (Gellerstam và ctg., 2010) và những điều kiện nhất định (Nguyễn Văn Tài và ctg., 2014) dùng để diễn tả sự kết nối giữa các cá nhân với nhau trong xã hội (Cheng và ctg. Các nhà nghiên cứu Trung Quốc (Alston, 1989; Chen và ctg., 2004; Luo, 1997) thường sử dụng thuật ngữ “Guanxi” (quan hệ) để thể hiện mối quan hệ đặc biệt và/hoặc sự kết nối giữa hai người. Ngoài ra, các nhà nghiên cứu còn dùng các từ ngữ khác để diễn tả các thuộc tính của “Guanxi” như: “quý mến”, “tương tác”, “qua lại”.
Sự khác nhau này xuất phát từ cách thức tiếp cận về “mối quan hệ” (Cheng và ctg. Bất kỳ đối tượng nào cũng có mối quan hệ với các đối tượng khác, không có đối tượng nào nằm ngoài mối quan hệ và mối quan hệ có ở tất cả các lĩnh vực từ tự nhiên, xã hội đến tư duy (Nguyễn Văn Tài và ctg. Trong nghiên cứu này, “mối quan hệ” sẽ được định nghĩa là sự tương tác qua lại giữa các bên nhằm đạt được các lợi ích. Khái niệm về quan hệ xã hội Huỳnh Công Bá (2012) cho rằng, bất kỳ một sự vật, hiện tượng trong xã hội đều có mối liên hệ với nhau, nhưng không phải mối liên hệ nào cũng là quan hệ xã hội.
Quan hệ xã hội phải được hình thành trên cơ sở tương tác xã hội có hoạch định, có mục đích, có xu hướng lặp đi lặp lại một cách ổn định và tạo ra các mô hình tương tác. Cụ thể hơn, quan Trang 6 Chương 2: Cơ sở lý thuyết hệ xã hội là mối quan hệ cơ bản giữa người và người trong xã hội, nảy sinh trên cơ sở của những tương tác xã hội ổn định, bền vững và được lặp đi lặp lại. Theo Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, quan hệ xã hội là những quan hệ giữa người với người được hình thành trong quá trình hoạt động kinh tế, xã hội, chính trị, pháp luật, tư tưởng, đạo đức, và văn hóa. Džunić (2010) nhận thấy, quan hệ xã hội có các biểu hiện và hình thức diễn đạt khác nhau mà có thể gây ra nhiều kết quả khác nhau.
Inkpen và ctg (2005) cũng nhận thấy rằng, quan hệ xã hội giữa các chủ thể có thể có nhiều hình thức khác nhau, từ việc có nhiều liên minh chính thức như: các hiệp hội thương mại, sự liên kết thành viên Hội đồng quản trị đến các mối liên kết giáo dục để có nhiều mối liên lạc tình bạn thân mật hơn (Inkpen và ctg., 2005; trích bởi Bringmann và ctg. Khái niệm về mạng lưới xã hội Mỗi cá nhân trong xã hội có thể thuộc về nhiều nhóm, tổ chức xã hội khác nhau. Họ thường dành phần lớn thời gian và duy trì cái mà các nhà xã hội học gọi là mạng lưới xã hội. Mạng lưới xã hội, bao gồm tất cả các mạng lưới về những quan hệ của một cá nhân đối với những thành viên khác trong các nhóm xã hội mà người đó tham gia.
Mục đích của việc tạo ra và duy trì các mạng lưới xã hội là nhằm nhận được sự trợ giúp về mặt xã hội (thông tin, kiến thức và nguồn lực) cũng như thúc đẩy các lợi ích, nhu cầu của nhau (Huỳnh Công Bá, 2012). Một mạng lưới được thiết lập khi các chủ thể (node) đều được kết nối với nhau thông qua mối liên hệ (edges) trực tiếp hoặc gián tiếp (Bringmann và ctg. Mạng lưới xã hội là một cấu trúc xã hội được cấu thành từ các nút và các cung. Các nút được liên kết với nhau bởi một hoặc nhiều cung thể hiện mối quan hệ cụ thể (Chen, 2010).
Mối liên hệ giữa các nút đó được đại diện bằng một liên kết, liên kết có thể là mối quan hệ bạn bè, người thân, đồng nghiệp, các giao dịch, trao đổi, giá trị, nội dung, kết nối vật lý (Chen, 2010). Shahgholian và ctg (2015) nhận xét rằng, mạng lưới xã hội và các phương pháp để phân tích đã thu hút được sự quan tâm Trang 7 Chương 2: Cơ sở lý thuyết đáng kể trong rất nhiều lĩnh vực nghiên cứu khác nhau như: xã hội học (Wasserman & Faust, 1994; Bonacich, 1987), thông tin liên lạc email (Tyler và ctg., 2005), kinh tế (Boginski và ctg., 2006) và tài chính (Fracassi & Tate, 2012). Phân tích mạng lưới xã hội (Social network analysis - SNA) là một tập hợp các lý thuyết, công cụ, và các quá trình để hiểu rõ các mối quan hệ và cấu trúc của một mạng lưới quan hệ. Các "nút" (nodes) của một mạng lưới là những con người và "liên kết" (links) là các mối quan hệ giữa con người với con người.
Ngoài ra, các “nút” cũng được sử dụng để đại diện cho các sự kiện, ý tưởng, đối tượng, hoặc những thứ khác (Hoppe và ctg. Phân tích mạng lưới xã hội hay “sociometry” được thiết lập cách tiếp cận khoa học xã hội và thiết lập các kỹ thuật được sử dụng để nghiên cứu các mối quan hệ và khai thông nguồn lực giữa con người, các nhóm, các tổ chức, máy tính hoặc các thể chế xử lý thông tin khác (Whelan, 2010). Phân tích mạng lưới xã hội xem các mối quan hệ xã hội như là các nút (nodes) và các mối quan hệ (ties) cái được minh họa một cách trực quan và toán học. Cách tiếp cận phân tích mạng lưới này khác với cách phân tích khác ở chỗ nó có liên quan tới cấu trúc, hình thái của các mối quan hệ cũng như việc tìm kiếm nhằm xác định cả nguyên nhân và hậu quả của nó (Whelan, 2010).
Khái niệm về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước Vũ Văn Viên (2005) cho rằng, vấn đề sở hữu luôn là tâm điểm trong mỗi xã hội qua mọi thời đại. Đây là kết quả của quá trình phát triển kinh tế, xã hội, đồng thời vấn đề sở hữu cũng có sự tác động trở lại sự phát triển của kinh tế và xã hội. Do đó, sở hữu luôn được các nhà triết học, chính khách, các nhà kinh tế cũng như các nhà hoạt động xã hội đặc biệt quan tâm. Ngày nay, một nền kinh tế thị trường đòi hỏi phải thực hiện chế độ đa dạng hóa các hình thức sở hữu.
Đa dạng hóa các hình thức sở hữu là một yêu cầu khách quan, một quy luật tất yếu và là một quyết sách có hiệu quả để phát triển lực lượng sản xuất. Có nhiều cách thức khác nhau để thực hiện sự đa dạng hóa các hình thức sở hữu và với mỗi quốc gia, mỗi loại hình kinh tế sẽ có những biện pháp khác nhau. Trong đó, cổ phần hóa là một trong những phương tiện cơ bản để thực hiện vấn đề này. Theo Thư viện học liệu mở Việt Nam (VOER), cổ phần hóa là quá trình chuyển đổi Trang 8 Chương 2: Cơ sở lý thuyết hình thức sở hữu từ sở hữu đơn nhất sang sở hữu chung thông qua việc chuyển nhượng một phần quyền sở hữu tài sản cho người khác.
Hay nói khác hơn, cổ phần hóa là việc biến đổi doanh nghiệp một ông chủ thành doanh nghiệp nhiều ông chủ. Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là cách gọi vắn tắt cho việc chuyển đổi các doanh nghiệp do nhà nước sở hữu thành các công ty cổ phần tại Việt Nam. Đây là quá trình chuyển đổi hình thức sở hữu từ doanh nghiệp 100% vốn điều lệ do Nhà nước sở hữu sang hình thức doanh nghiệp có nhiều người sở hữu và hoạt động theo hình thức công ty cổ phần (Hoàng Tuân, 2016). Tổng quát hơn, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là quá trình chuyển các doanh nghiệp thuộc nhà nước sở hữu sang hình thức các công ty cổ phần thông qua việc chuyển nhượng cổ phiếu cho các cổ đông bên ngoài (Dương Thị Vân Anh, 2015).
Theo Webster & Amin (1998), tại Việt Nam cổ phần hóa là một bộ phận của quá trình đổi mới các doanh nghiệp nhà nước. Quá trình này được bắt đầu với một chương trình thử nghiệm vào năm 1992 trên cơ sở quy định việc chuyển đổi tự nguyện một số các doanh nghiệp nhà nước có quy mô trung bình không mang tính chiến lược.